Đây là công ước rất quan trọng đối với sự phát triển về văn hóa của các quốc gia trên thế giới, vì nhấn mạnh hai điểm, trong đó có một điểm liên quan trực tiếp đến công nghiệp văn hóa. Điểm đầu tiên là các quốc gia có quyền chủ quyền về văn hóa. Vì vậy, các quốc gia phải bảo vệ văn hóa của mình. Từ trước đến nay, người ta nói nhiều tới câu chuyện quyền chủ quyền về lãnh thổ, rồi quyền chủ quyền về lãnh hải chứ chưa ai nhắc tới quyền chủ quyền về văn hóa. Công ước này ra đời là một bước tiến mới về nhận thức của nhân loại đối với văn hóa là chúng ta phải bảo vệ văn hóa của mình. Sự đa dạng của văn hóa cũng như sự đa dạng của tự nhiên, mất một nền văn hóa là một sự rất đáng tiếc với nhân loại. Vì thế, các quốc gia phải bảo vệ văn hóa của mình.

leftcenterrightdel
PGS, TS Bùi Hoài Sơn. Ảnh: HẢI LÝ

Khi các quốc gia phải bảo vệ văn hóa của mình có nghĩa rằng các quốc gia phải hình thành nên hệ thống chính sách và hệ thống luật pháp đối với lĩnh vực văn hóa. Đây là khuyến cáo của UNESCO mang tính chất toàn cầu.

Điểm thứ hai, UNESCO nhấn mạnh: “Để phát triển văn hóa phải phát triển các ngành công nghiệp văn hóa”. Đây là lần quan trọng nhất UNESCO đề cập tới việc phát triển công nghiệp văn hóa đồng nghĩa với phát triển văn hóa.

Việt Nam tham gia công ước này vào năm 2007. Đến năm 2012, các chuyên gia UNESCO đã đến Việt Nam và đánh giá về thực trạng của các ngành công nghiệp văn hóa ở ta. Theo các chuyên gia UNESCO, Việt Nam chưa có chính sách gì về công nghiệp văn hóa, cũng chưa hỗ trợ tài chính cho các ngành công nghiệp văn hóa. Họ đã khuyến cáo Chính phủ Việt Nam sự cần thiết xây dựng chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Đó là những viên gạch đầu tiên để chúng ta ban hành chiến lược về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam.

Với tư cách là các nhà khoa học, những người tư vấn chính sách cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Chính phủ, chúng tôi đã lồng ghép nội dung này vào để tạo ra chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam.

Ngày 8-9-2016, Chính phủ đã cho ra đời Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Khi đánh giá chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam thì phải hiểu, các ngành công nghiệp văn hóa được cấu thành bởi 4 yếu tố quan trọng. Thứ nhất là tài năng sáng tạo. Thứ hai là vốn văn hóa, hay là tiềm năng văn hóa của một quốc gia. Thứ ba là công nghệ và thứ tư là kỹ năng kinh doanh. Tức là, “các ngành công nghiệp văn hóa là các lĩnh vực sử dụng tài năng sáng tạo, vốn văn hóa, kết hợp với công nghệ và kỹ năng kinh doanh để tạo ra các sản phẩm văn hóa”-định nghĩa chuẩn về các ngành công nghiệp văn hóa.

Việt Nam đang đứng ở đâu trong tiến trình xây dựng các ngành công nghiệp văn hóa?

Tài năng sáng tạo rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Không phải ngẫu nhiên, Chính phủ đang đưa ra chiến lược quốc gia khởi nghiệp. Mà hạt nhân quan trọng của quốc gia khởi nghiệp là sáng tạo. Trong khi văn hóa-nghệ thuật chính là kênh cơ bản để tạo ra sáng tạo. Thông qua việc trải nghiệm văn hóa-nghệ thuật, thông qua việc học văn hóa-nghệ thuật, con người phát triển được tài năng sáng tạo. Chúng ta có nhiều tài năng sáng tạo nhưng lại không phát huy được những tài năng ấy. Thực tế, nhiều tài năng sáng tạo của Việt Nam chỉ có thể “đơm hoa kết trái” khi ra nước ngoài.

Yếu tố tài năng sáng tạo đã trở thành trở ngại đầu tiên trong việc phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam.

Thứ hai là yếu tố vốn văn hóa. Chúng ta là một dân tộc có bề dày lịch sử, có một nền văn hóa vô cùng phong phú và đặc sắc với 54 dân tộc anh em. Tuy nhiên, yếu tố này trong phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam gặp rất nhiều vấn đề, khi chúng ta không thể biến các câu chuyện lịch sử, những bản sắc văn hóa thành những sản phẩm, dịch vụ văn hóa. Tôi lấy một vài ví dụ. Bộ phim “Avengers: End Game” tính đến ngày hôm nay (6-5) đã thu được 2,189 tỷ USD tiền vé. Như vậy, lợi nhuận của rất nhiều doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam không bằng một bộ phim của Mỹ. Ban nhạc BTS của Hàn Quốc, năm 2018 thu được khoảng 100 triệu USD tiền vé, tương đương khoảng hơn 2.600 tỷ đồng. Trong khi đó, chi thường xuyên cho cả ngành văn hóa ở ta năm 2018 chưa đầy 3.000 tỷ đồng… Những ví dụ này cho thấy, nếu đầu tư cho công nghiệp văn hóa sẽ đem lại lợi nhuận lớn như thế nào. Hơn thế, đầu tư cho phát triển công nghiệp văn hóa lại mang tính bền vững vì không tiêu tốn nhiên liệu, không làm ảnh hưởng tới môi trường…

Tại sao chúng ta không đầu tư cho công nghiệp văn hóa trong khi cả thế giới đang đầu tư cho lĩnh vực này? Vì họ biết rằng, tốc độ tăng trưởng của công nghiệp văn hóa bao giờ cũng gấp 1,5 lần so với tốc độ tăng trưởng GDP của một quốc gia.

Hơn nữa, đầu tư cho phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ tạo ra các sản phẩm, dịch vụ văn hóa mà còn tạo ra nhiều lợi ích khác. Đó là những bài học về lịch sử, về đạo đức, là những sinh hoạt giải trí lành mạnh…

Yếu tố thứ ba, trong những năm vừa qua, chúng ta phát triển rất nhiều công nghệ. Tuy nhiên, công nghệ của Việt Nam trong tất cả các lĩnh vực của công nghiệp văn hóa đều gặp vấn đề. Chẳng hạn như điện ảnh, chúng ta chưa có phim 3D, nhiều phim phải thuê làm hậu kỳ ở nước ngoài… Trong khi đối với công nghiệp văn hóa, công nghệ luôn luôn phải tiên phong mới có thể tạo ra những sản phẩm thu hút sự quan tâm của công chúng.

Yếu tố cuối cùng, kỹ năng kinh doanh văn hóa là vấn đề cực yếu của người Việt. Nhiều nghệ sĩ có tài nhưng không thể biến tài năng của họ thành kinh tế cho bản thân và cho đất nước. Từ tài năng đến thành công trên thương trường là hai câu chuyện khác nhau. Tài năng là yếu tố cần nhưng không phải là yếu tố đủ.

Các nghệ sĩ không nhất thiết phải kinh doanh trực tiếp nhưng họ phải ý thức được là làm thế nào để tác phẩm nghệ thuật của mình đến được với công chúng, làm thế nào để sản phẩm của mình có giá cao nhất… Ở đây có phần nào lỗi của các trường nghệ thuật. Khi các chuyên gia nước ngoài đánh giá về các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam, họ khuyến cáo phải thay đổi chương trình đào tạo tại các trường nghệ thuật. Theo đó, phải đưa các kỹ năng kinh doanh vào giảng dạy.

Để tạo ra bước đột phá trong phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, thứ nhất, cần xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm văn hóa Việt Nam. Chúng ta phải tổ chức các sự kiện mang tầm vóc khu vực và quốc tế tại Việt Nam. Muốn phát triển điện ảnh, chúng ta phải tổ chức các liên hoan phim quốc tế. Muốn phát triển thời trang, phải tổ chức các tuần lễ thời trang quốc tế và xây dựng thương hiệu cho các nhà tạo mẫu Việt Nam, doanh nghiệp thời trang… Cùng đó, chúng ta phải tham dự các sự kiện văn hóa ở nước ngoài để vừa học hỏi, vừa phát triển thương hiệu.

Thứ hai, phải thay đổi chương trình giáo dục theo hướng giáo dục sáng tạo từ các trường phổ thông. Ở đây, chúng ta phải thay đổi quan điểm giáo dục nghệ thuật trong nhà trường. Giáo dục nghệ thuật trong nhà trường giúp học sinh hình thành khả năng sáng tạo. Bản chất của nghệ thuật là sáng tạo, nên khi hòa mình vào nghệ thuật, bản thân người ta sẽ sáng tạo. Vì thế, nếu học sinh được học về nghệ thuật, lớn lên sẽ trở thành những con người sáng tạo.

Một khía cạnh khác, khi được dạy về nghệ thuật, người ta sẽ hiểu và yêu nghệ thuật. Khi yêu nghệ thuật, người ta sẽ tham gia vào các sự kiện nghệ thuật. Từ đó sẽ tạo ra một thị trường nghệ thuật. Hơn thế, thông qua nghệ thuật, người ta được hướng tới các giá trị chân-thiện-mỹ, có sự đề kháng đối với cái xấu, cái ác. Từ đó tạo ra một thế hệ con người có đạo đức tốt hơn, đáp ứng được yêu cầu phát triển.

Thứ ba, chúng ta phải có những cơ chế, chính sách phù hợp với sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa. Chúng ta đang gặp điểm nghẽn trong chính sách huy động nguồn lực của xã hội đối với sự phát triển của văn hóa. Một trong những nguyên nhân là chúng ta chưa có luật hiến tặng và bảo trợ nghệ thuật như ở một số nước có nền công nghiệp văn hóa phát triển. Luật hiến tặng và bảo trợ nghệ thuật có vai trò tạo ra hành lang pháp lý, điều kiện cơ sở để những người tham gia thấy được lợi ích của mình. Nó cũng giúp cho các đơn vị, tổ chức văn hóa-nghệ thuật có được những lợi ích khi nhận những tài trợ để phát triển.

Một vấn đề nữa là việc xây dựng các không gian sáng tạo. Không gian sáng tạo là địa điểm kết nối các tài năng sáng tạo, địa điểm để người ta giải trí. Hiện trên thế giới, việc phát triển các không gian sáng tạo đang diễn ra với tốc độ rất nhanh, tạo ra những điểm nhấn cho các đô thị, biến các đô thị thành các địa điểm đáng sống. Trong khi chúng ta chưa quan tâm lắm tới vấn đề này.

Tóm lại, phát triển công nghiệp văn hóa phải được xem là một mũi nhọn, là khâu đột phá trong phát triển đất nước. Mặt khác, việc tuyên truyền, giáo dục cần được thông qua các sản phẩm, dịch vụ văn hóa.

(*) Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam PGS, TS Bùi Hoài Sơn (*)

HẢI ĐĂNG (ghi)