Địch đã tìm mọi thủ đoạn để ngăn ta tiếp xúc với dân, đồng thời triệt hạ ta về kinh tế. Chúng lập hàng rào của lính Úc bằng kẽm gai bùng nhùng, bề ngang rộng hàng trăm mét, kéo dài hàng chục cây số từ bờ biển Phước Hải đến tận chi khu Đất Đỏ để ngăn chặn lực lượng ta từ ngoài rừng về tiếp xúc với đồng bào trong các ấp chiến lược. Mặt khác, chúng lại thành lập các tổ liên gia trong các ấp chiến lược để kiểm soát lẫn nhau, không cho dân tiếp xúc với ta, không ai được cung cấp lương thực, thực phẩm cho quân ta. Chúng không để cho ai có lương thực, lúa gạo dự trữ trong nhà riêng, mà để tập trung do các trưởng liên gia quản lý. Hằng ngày đến bữa ăn, trưởng liên gia đến từng nhà đổ gạo vào nồi, cho nước vào gạo mới được nấu cơm. Do đó, dân không còn gạo khô dự trữ để tiếp tế cho ta.

leftcenterrightdel
Minh họa: MẠNH TIẾN

Hậu cần của ta đã tìm mọi cách để móc nối với cơ sở trong ấp nhưng vẫn không sao mua được gạo cho bộ đội. Thế là đói và đói... cứ kéo dài từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này sang tháng kia. Hàng năm trời đằng đẵng như thế. Mỗi lần tổ chức đi mua gạo là mỗi lần đổ máu. Quân Úc luôn rình rập phục kích ta quanh ấp để triệt hạ ta khi vào ấp ban đêm. Vì thế, hậu cần mua được thứ gì ăn thứ đó. Nhưng cũng chỉ mua được các thứ dân trồng ngoài rẫy mà địch không kiểm soát hết như đậu tương, đậu đen, ngô, khoai, mì (sắn) nhưng vẫn không sao cung cấp đủ cho bộ đội.

Đói, vẫn đói dài dài..., thường xuyên. “Bụng đói thì đầu gối phải bò”, không nhẽ ngồi im chờ chết đói. Mọi đơn vị, mọi chiến sĩ phải tìm lấy cái ăn để mà sống, mà chiến đấu. Phải tìm ra mọi thứ có trong rừng, có thể ăn được để mà ăn. Miễn làm sao nhét vào bụng mà không chết là được.

Măng tre là trợ thủ đắc lực rồi. Măng luộc trừ bữa là tất nhiên. Những vùng có quân ta trú quân, măng tre bị khai thác gần như triệt để bằng ba cách: Đào, đạp, rung. Măng mới nhú khỏi mặt đất thì lấy xẻng, cuốc, dao găm đào, gọi là “măng đào”. Măng lên trên mặt đất một, hai gang tay thì lấy chân đạp gãy, gọi là “măng đạp”. Măng lên khỏi đầu người thì hai tay tóm vào cây rung cho gãy, rơi xuống gọi là “măng rung”. Nghĩa là “không cho chúng nó thoát”. Măng ơi, mày ráng hy sinh để chúng tao sống, đánh Mỹ. Mai mốt Mỹ cút đi rồi, chúng mày tha hồ mà mọc thành rừng xanh mướt. Tre ơi! Giờ thì mày hãy thông cảm với cái bụng lép kẹp của chúng tao nhé!

Nhưng măng chỉ có trong mùa mưa. Mùa khô vùng đất đỏ, đất cứng như gạch nung làm sao tre ra măng được.

Thế thì phải có cái gì thay thế chứ. Rất cảm ơn đất đỏ miền Đông đã cho ta một loại củ vô cùng quý giá, đó là “củ chụp”. Một ân nhân cứu cánh cho cái dạ dày lép kẹp của bộ đội.

Nhưng không phải chỗ nào cũng có. Chúng mọc rải rác trong rừng, phải đi tìm mới gặp được. Chỗ này vài cây, chỗ kia vài cây.

Thực ra cây củ chụp là họ cây củ mài ở miền Bắc. Lá to, dày gần giống lá trầu không nhưng hơi cong hình chữ V. Củ thuôn dài, trên nhỏ, dưới to và to dần theo độ dài của củ. Vỏ có màu vàng nhạt gần giống vỏ khoai tây. Cây càng sống lâu năm thì củ càng dài, càng to. Có củ dài hàng mét, chui sâu vào lòng đất, nặng hàng chục ký (ki-lô-gam). Tìm được những củ như thế đem về, tất cả chúng tôi đều sáng mắt lên. Có thể chục người được bữa no.

Đào được một củ nguyên lành như thế kỳ công lắm. Vì không phải đào bằng cuốc, xẻng mà đào bằng cái chụp. Vì thế, củ này mới có tên là “củ chụp”. Vậy cái chụp nó như thế nào mà đào được củ? Các bạn cứ hình dung thế này nhé: Chụp được làm bằng một đoạn tre, dài ngắn tùy theo độ sâu của củ. Một đầu chẻ ra, vót nhọn và đan loe ra bằng một cái phễu, cứng như răng nơm úp cá. Ta dùng cái chụp, chụp vào đất xung quanh củ để lấy đất lên. Rồi đập nhẹ sang bên cạnh đó cho đất rơi ra hết. Cứ thế tiếp tục chụp, cho tới khi nào tới đáy mới thôi. Củ càng sâu thì chụp càng phải dài mới lấy được nguyên củ. Nếu chụp ngắn, mới đào tới giữa chừng đã lấy củ lên, củ sẽ bị đứt gãy, chỉ lấy được phần trên, còn phần to ngon ở dưới không lấy được, thật lãng phí công đào.

Cách đào phải cẩn thận và kiên trì, không thể nóng vội. Khi đào, phải giữ cho thân cây và củ bên dưới luôn dựa vào thành đất từ trên xuống dưới. Chỉ được đào về một bên xung quanh củ, còn phần kia làm chỗ dựa cho củ. Càng xuống sâu, củ càng mềm, dễ gãy. Vì thế, mỗi lần chụp lấy đất, không được chụp mạnh quá, nếu va vào củ là củ gãy luôn.

Có thể nói đào củ chụp cũng là một nghệ thuật của các chiến sĩ Quân Giải phóng Bà Rịa, sau Tết Mậu Thân 1968. Mỗi lần hành quân đi trong rừng, ta thường bắt gặp rải rác những hố sâu hàng mét đất. Đấy chính là dấu ấn của những hố “củ chụp” mà quân ta tạo ra trong những năm tháng dài đói cơm, thiếu gạo.

Ngoài hai món thực phẩm khai thác từ rừng đất đỏ Biên Hòa, Bà Rịa, các chiến sĩ còn khai thác hai loại thực phẩm khác là chuối xanh, mít xanh ở khu vực rừng chuối Gia Nghĩa, đồn điền mít Cẩm Mỹ.

Nói là khai thác, thật ra là phải đi rình mò đêm hôm mới lấy được. Bởi vì nơi ấy địch thường hay đưa quân để phục kích đánh ta. Nếu ta không điều tra, không nắm được tình hình địch, cứ tự nhiên kéo nhau đi lấy chuối hoặc lấy mít thì có ngày “toi mạng” như chơi. Thực tế là có nhiều lần đi lấy chuối, lấy mít, ta đã bị địch phục kích, nhiều đồng chí đã hy sinh rất thương tâm trên rẫy chuối, đồi mít không có người chôn, vì địch phục kích liên tục kéo dài nhiều ngày. Ta không thể quay lại chôn cất đồng đội được. Chỉ khi địch rút đi, ta mới chôn cất được và mới có cơ hội lấy được chuối, mít về ăn.

Phần lớn là chuối xanh, mít xanh. Non hay già đều luộc ăn trừ bữa. May khi nào có quả chín thì ăn chín, còn đều phải ăn chuối xanh, mít xanh luộc; xơ mít, cùi mít muối dưa ăn thay rau. Nhưng không phải lúc nào cũng lấy được, gặp khi địch mở các cuộc càn lớn thì phải nhịn đói lo đánh giặc đã. Khi giặc rút mới lại lo đến cái ăn.

Có lần giặc càn lâu quá, chiến sĩ ta đói mờ mắt, khi địch vừa rút đi thì ta tới. Anh em phát hiện được một đống cơm, chừng vài ba bát, địch đổ bên gốc cây, đã lên mốc xanh vàng và chua như mẻ, nhưng vẫn làm chiến sĩ ta sướng run lên, vì đã hàng tuần lễ mới lại nhìn thấy hột cơm. Thế là lập tức lấy mũ cối ngửa ra, bốc tất cả đống cơm lẫn cả đất và lá cây mục, đưa xuống suối đãi. Không dám khỏa tay mạnh vì sợ cơm chua nát ra, trôi hết, mà chỉ khe khẽ lắc cho lá mục trôi ra, cơm chua và đất lắng xuống. Khi hết lá mục mới lại cho nước đầy vào, lắc nhẹ cho đất chìm xuống, cơm chua nổi lên trên. Rồi gạn lấy phần cơm chua đem về nấu cháo. Đó là bữa “cháo mẻ” nhớ đời của các chiến sĩ Biên Hòa, Bà Rịa, chua như mẻ mà vẫn thấy ngon, vẫn thấy mát lòng mát dạ. Bây giờ nói “cháo mẻ” có lẽ không ai ngờ tới vì chưa ai được ăn bao giờ. Sự thực “cháo mẻ” là như thế đấy!

ĐÌNH THỊNH  (*)

(*) Nguyên phóng viên Báo Quân Giải phóng