Trước hết, xin bàn luận một chút về nghệ thuật trào phúng của nền văn học Việt Nam.

Khi nói về nghệ thuật trào phúng trong văn học, công chúng nhớ ngay đến các tác giả: Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng. Họ được xem là “tứ đỉnh hài hước” trong dòng văn học trào phúng Việt Nam. Tuy mỗi người sống ở một thời đại khác nhau, có thủ pháp nghệ thuật và đối tượng phản ánh khác nhau, nhưng đều gặp nhau ở điểm chung là dùng nghệ thuật để bóc trần cái giả, cái xấu và những nghịch lý xã hội.

Nghiên cứu kỹ thì thấy cách dùng nghệ thuật để tạo ra tiếng cười của họ có sự khác nhau.

leftcenterrightdel

Những tác phẩm Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại được xem như “Vũ khí mềm” . Minh họa: MAI MINH

Hồ Xuân Hương, “bà chúa thơ Nôm” nổi tiếng với ngôn ngữ dân gian tục mà thanh, lối nói đa nghĩa, hình ảnh đời thường, tạo ra tiếng cười trào lộng, đả kích, mang tinh thần phản kháng mạnh mẽ. Điển hình trong đó là thi phẩm “Vịnh cái quạt”: Mát mặt anh hùng khi tắt gió,/ Che đầu quân tử lúc sa mưa./ Nâng niu ướm hỏi người trong trướng,/ Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?

Trần Tế Xương đã đại diện cho tầng lớp thị dân cuối thế kỷ 19 dùng nghệ thuật tự trào cay đắng phản ánh những bất công trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến với các biểu hiện lai căng, lối học đòi hư danh, những nghịch cảnh của thời mất nước và tầng lớp quan lại xu nịnh. Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt/ Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng ("Giễu người thi đỗ").

Nguyễn Công Hoan, một trong những nhà văn hiện thực phê phán tiêu biểu trước Cách mạng Tháng Tám, được ví là là bậc thầy dựng tình huống trào phúng. Các tác phẩm: “Kép Tư Bền”, “Tinh thần thể dục”, “Bước đường cùng” được người đọc nhớ đến vì có những tình huống oái oăm, mang đầy nghịch lý, lật mặt sự giả dối của quan lại tham nhũng, cường hào, địa chủ, xã hội đồng tiền, sự vô nhân đạo của bộ máy thực dân-phong kiến. Tiếng cười mà ông mang lại cho độc giả sắc lạnh, trực diện, khiến người đọc phải nổi da gà khi tiếp nhận.

Nhân vật cuối cùng trong “tứ đỉnh hài hước” là Vũ Trọng Phụng. Ông được mệnh danh “vua phóng sự đất Bắc”, là đỉnh cao của tiểu thuyết trào phúng hiện đại Việt Nam. Ông có biệt tài đẩy cái phi lý lên cực điểm, khiến người đọc vừa buồn cười vừa rùng mình. Qua các tác phẩm, ông đã châm biếm và phanh phui cả một xã hội Âu hóa nửa mùa, đạo đức giả, đồng tiền thống trị, sự suy đồi văn hóa và nhân cách. Đến nay, nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong tác phẩm “Số đỏ” của ông vẫn là một biểu tượng trào phúng.

Nhưng nếu chỉ thông qua “tứ đỉnh” để đánh giá về nghệ thuật trào phúng Việt Nam thì e chưa đầy đủ, chưa phản ánh toàn diện sự đồ sộ nếu không nhắc đến những tác phẩm văn học trào phúng đặc sắc của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh.

Trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại, Hồ Chí Minh là một hiện tượng đặc biệt. Người không bước vào văn chương với tư cách một nghệ sĩ thuần túy mà bằng tư thế của một chiến sĩ cách mạng. Chính điều đó lại làm nên nét riêng của văn thơ Hồ Chí Minh. Người đã tạo ra thứ văn chương giàu trí tuệ, giàu tính chiến đấu và đặc biệt sắc sảo trong nghệ thuật trào phúng. Các tác phẩm trào lộng Người sáng tác không nhiều nhưng để lại tiếng cười rất riêng: Nhẹ mà đau, kín mà sâu, hóm hỉnh nhưng đầy sức công phá.

Trước hết, đó không phải là tiếng cười mua vui mà là tiếng cười của trí tuệ và bản lĩnh văn hóa. Hồ Chí Minh đã sử dụng trào phúng nhuần nhuyễn, giống như tạo ra thứ vũ khí vô hình để chiến sĩ cách mạng giác ngộ tư tưởng và mài sắc ý chí đấu tranh. Khi đọc lại vở kịch “Con rồng tre”, tác phẩm “Vi hành”, “Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu” và tập thơ “Ngục trung nhật ký”, nhận thấy có một số đặc trưng là: Người không lên án trực diện mà dựng tình huống nghịch lý, tạo đối thoại châm biếm, dùng giọng kể nhẹ nhàng, lấy cái hài để bóc cái bi, dùng sự điềm nhiên để tạo sức nặng tư tưởng. Đó là nghệ thuật “đánh bằng tiếng cười”. Đó là những tác phẩm văn học, là những đòn tiến công sắc bén vào chủ nghĩa thực dân và tầng lớp tay sai phong kiến.

Theo tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh, vở kịch “Con rồng tre” được viết năm 1922 bằng tiếng Pháp khi Vua Khải Định sang Pháp dự Hội chợ thuộc địa Marseille nhằm phô trương cái gọi là “công cuộc khai hóa văn minh”. Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng “con rồng tre” làm hình tượng nghệ thuật. Trong văn hóa phương Đông, con rồng vốn là biểu tượng của quyền uy, sức mạnh, thiên tử, đế vương, nhưng qua ngòi bút của Người, “con rồng” được đẽo từ... tre, dù nó mang hình, mang danh rồng, nhưng bản chất chỉ là một khúc tre không có gì đặc biệt, rỗng ruột và vô hồn. Người đọc hình dung ra Vua Khải Định tuy khoác áo quân vương nhưng mất quyền, mang danh hoàng đế nhưng chỉ là món đồ trang trí cho thực dân Pháp.

Điều đặc biệt là trong tác phẩm không hề có lời lẽ thô tục nhưng vẫn tạo ra sự châm biếm, làm cho tiếng cười thêm thâm thúy, ám ảnh và có sức sống lâu bền. Ở đây, tiếng cười không chỉ hướng vào cá nhân Khải Định mà còn phản ánh sự mục ruỗng của chế độ phong kiến tay sai và sự tha hóa của quyền lực khi đánh mất nền tảng văn hóa và chủ quyền dân tộc.

Nếu “Con rồng tre” thiên về biểu tượng thì “Vi hành” là đỉnh cao của nghệ thuật dựng tình huống trào phúng. Dù được viết bằng một giọng bình thản, nhẹ nhàng, đôi khi như kể chuyện chơi, nhưng sự điềm tĩnh ấy đã làm tăng sức nặng nghệ thuật, tạo ra sự trào lộng thâm thúy.

Một đôi trai gái Pháp trên tàu điện ngầm Paris nhầm người kể chuyện là Vua Khải Định. Từ đó, họ tha hồ bình phẩm, tò mò và chế giễu “ông vua An Nam”. Nguyễn Ái Quốc rất cao tay khi dùng thủ pháp “mượn cái nhìn của người khác để lật mặt đối tượng”. Người không trực tiếp xuất hiện để kết tội Vua Khải Định mà để chính người Pháp làm việc ấy. Vua Khải Định hiện ra như một món hàng triển lãm thuộc địa, như trò tiêu khiển phương Đông, như một “sinh vật lạ” gây tò mò hơn là kính trọng đối với người Pháp và nước Pháp. Nguyễn Ái Quốc đã cho đại chúng biết một mưu mô đằng sau màn chính trị vụng về ấy là bi kịch của một dân tộc mất nước đến mức ông vua cũng trở thành đối tượng mua vui nơi xứ người. Đây là kiểu trào phúng hiện đại, khác biệt, tuy nhẹ nhàng mà đau, đủ làm đối tượng bị “lột mặt nạ”. Điều này không giống với nhiều cây bút châm biếm thường sử dụng ngôn ngữ trực diện, thủ pháp gay gắt, phẫn nộ hoặc cường điệu hóa để gây tiếng cười.

Bài thơ “Lai Tân” trong “Ngục trung nhật ký” của Hồ Chí Minh là ví dụ cho một cách trào phúng khác, đó là tiếng cười trong tù. Có học giả nhận định, đó là nghệ thuật trào phúng bậc cao vì tác giả không cần sử dụng ngôn ngữ để thét lên hoặc chửi rủa mà hiện thực vẫn hiện ra đáng xấu hổ. Giam phòng Ban trưởng thiên thiên đổ,/ Cảnh trưởng tham thôn giải phạm tiền;/ Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự,/ Lai Tân y cựu thái bình thiên (bản dịch thơ của Nam Trân: Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc,/ Giải người, cảnh trưởng kiếm ăn quanh./ Chong đèn, huyện trưởng làm công việc,/ Trời đất Lai Tân vẫn thái bình).

Bài thơ chỉ ghi lại vài chi tiết: Ban trưởng đánh bạc, cảnh trưởng ăn tiền, huyện trưởng “đèn chong xử việc công” mà không có lời kết án dữ dội nào. Nhưng chỉ bằng cách đặt các chi tiết cạnh nhau, cả bộ máy cai trị từ trên xuống dưới đã tự lộ nguyên hình tha hóa, pháp luật chỉ còn là màn kịch, công lý bị bóp méo bởi đồng tiền và quyền lực.

Bên cạnh nhiều tác phẩm châm biếm sâu cay được viết từ vị trí người đứng ngoài hiện thực quan sát và phê phán thì “Ngục trung nhật ký” là tác phẩm được viết trong xiềng xích, trong đói rét, trong bệnh tật, trên những chặng đường chuyển lao khắc nghiệt.

Trong hoàn cảnh ấy mà Người vẫn có thể cười bằng những thi phẩm trào phúng thì đó là tài năng nghệ thuật đỉnh cao. Cao hơn, đó là bản lĩnh tinh thần chiến sĩ cách mạng. Tiếng cười lúc này trở thành thang thuốc vượt lên đau khổ; là cách giữ tự do nội tâm, cách bảo vệ phẩm giá con người mà không hề cay độc. Sau tiếng cười vẫn là tấm lòng nhân hậu, niềm tin vào con người và tinh thần lạc quan của người chiến sĩ cách mạng kiên trung.

Trong đời sống văn học hôm nay, nhiều tác giả đã cho ra những tác phẩm văn học hài hước, phê phán xã hội, nhưng đáng buồn là thường bị chê vì giáo điều, khô cứng hoặc cay cú, cảm xúc mang tính thỏa mãn cái tôi. Từ những tác phẩm trào phúng của Hồ Chí Minh tạm rút ra kết luận quan trọng: Muốn phê phán sâu sắc cần có trí tuệ, độ lùi suy tưởng, khả năng tiết chế và chiều sâu nhân văn. Đồng thời, các tác giả cũng cần chú ý, tiếng cười không phải để hạ thấp con người mà để bảo vệ những giá trị tốt đẹp. Đó là tiếng cười càng nghĩ càng đau và cười để thức tỉnh.

Nghệ thuật ấy là thứ “vũ khí mềm” còn nguyên giá trị và tính thời sự rất cao.

VŨ THIỆN