Anh Hợp biết nhiều thứ mà ở bản chưa ai biết. Lúc ngang qua gốc cây đa đầu cầu suối Củn, mặc dù tôi đã nghiêng mũ cọ, chuẩn bị lấy đà đạp thật nhanh nhưng bà Ngần vẫn kịp chạy ra chặn đường. Giấu đi bộ mặt nhăn nhó, tôi vẫn lễ phép chào bà. Bà Ngần loay hoay một tay xách làn, tay kia cầm cây gậy, gió thốc nón mê chực bay vèo xuống suối, nhón chân ngồi gọn sau lưng tôi, nhẹ bẫng.
- Cháu ơi! Bà đợi mãi mới thấy cháu đi về phía Nà Kép. Cho bà đi nhờ vào nhà ông Minh nhé. Hồi nãy có ông đi xe máy, bà ới to mà tai của họ chắc bị gió bịt hũ nút rồi, phóng xe nhanh quá.
Bà Ngần hỏi tôi con cháu nhà ai, đi Nà Kép có việc gì. Tôi đáp gọn lỏn mặc cho bà tấm tắc khen con đường bê tông mới đổ làm thay đổi diện mạo cả vùng quê heo hút. Tôi từng nghe người già kể, bà Ngần hồi xưa mỗi khi trở trời lại ôm đầu gào thét, vật vã, trông rất đáng sợ. Tôi càng không thích ai tò mò việc của mình, đoán già đoán non, sau đó thêm mắm dặm muối trước khi câu chuyện lọt vào hàng bánh cuốn sáng ở đầu bản. Có lần, tôi tiện đường chở cái Mận về ông ngoại, người trong bản nhìn thấy đã đồn rằng tôi có người yêu. Tôi giải thích mãi mẹ mới tin và đồng ý cho tôi đi học thêm môn Tiếng Anh với cô giáo ngoài phố. Nhưng cái Mận thì quay ra tránh mặt, thậm chí khi đối mặt nhau, nó còn ném cho tôi một cái lườm sắc lẹm. Tôi nghĩ, mình chẳng làm gì sai cả. Tôi rất ngại ai bàn tán về mình.
- Hay là, bà cũng theo cháu vào nhà Hợp trước rồi hẵng quay ra nhà ông Minh sau nhỉ. Giờ có tuổi rồi, cái chân ngày một yếu đi nhưng ở yên trong nhà một ngày khó chịu lắm cháu à.
Nghe bà nói đến đấy, tôi vội vàng đáp:
- Bà ơi, anh Hợp với cháu phải bàn việc quan trọng lắm. Ngày mai, anh Hợp về đơn vị rồi, cháu phải tranh thủ. Bà cứ sang bên ông Minh, cháu đưa đến tận dưới sàn. Bao giờ bà xong việc thì quay lại nhà anh Hợp là vừa.
- Bà chỉ nói với Hợp vài câu thôi. Bà đi ngay.
Tôi miễn cưỡng chở theo bà Ngần đến tận nhà anh Hợp. Anh Hợp đang mặc áo chàm, treo cây đàn tính lên cột. Bắt lấy tay tôi và đỡ lấy chiếc làn của bà Ngần, dựng cây gậy ngay ngắn cạnh lối đi, anh nói:
- Cháu vừa đi tập hát then với câu lạc bộ của bản. Cháu mời bà lên nhà ngồi uống trà cho mát. Thế nào, thanh niên Tài, mai kia rời bản đi học xa, có gì muốn hỏi không?
Tôi ngập ngừng:
- Chắc em không đi học đại học, anh ạ! Với lại, em đi học, mẹ em lo không nổi học phí đâu, còn hai em của em nữa. Hôm nay em qua anh, muốn anh chỉ cho em cách dựng video làm nội dung số. Em ở nhà phụ mẹ, tối tìm cách đăng tin bán nông sản kiếm thêm vài đồng.
Anh Hợp rót nước mời bà Ngần và đưa thêm một chén cho tôi, ngẫm nghĩ một lúc, anh từ tốn:
- Em hãy làm hồ sơ đăng ký nguyện vọng đại học đi. Tiếng Anh của em rất tốt. Anh biết vậy. Sao em không thử nghĩ học đại học sư phạm, học phí được miễn, lại có khoản vay vốn lãi suất ưu đãi cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, nếu học tốt còn có cơ hội nhận học bổng, rồi học xong về quê, làm người thầy của bản? Còn việc làm nội dung số, anh hiểu đến đâu sẽ chỉ em đến đó. Đoàn thanh niên ở bản đã tìm anh để nhờ chia sẻ các ứng dụng quay và dựng hình cho các bạn. Cả bản chuyển đổi số, mừng lắm, nhưng anh muốn em phải tiến xa hơn.
Bà Ngần ngồi bên đế thêm vào:
- Nghe anh Hợp đi cháu. Học đại học về làm thầy giáo dạy ở bản mình. Các cháu của bà cũng nối nghiệp ông đi học rồi làm bộ đội, nhưng ở xa nên chỉ ngày lễ, tết mới về bản.
Anh Hợp vui vẻ:
- Con cháu của bà thành đạt thì bà mới có thời gian đan lát, dệt thổ cẩm chứ.
Bà Ngần quên mất lời hứa “chỉ nói vài câu” ban nãy với tôi, cầm lấy tay anh Hợp, lắc lắc:
- Đúng đấy, tôi sang gặp anh cũng vì việc này đây. Xã mời tôi đi dạy nghề đan lát và dệt. Nhưng, tôi nói cứ giống con sông cụt, chẳng trôi chảy tí nào, lúng túng như gà mắc tóc, người ta cười cho. Với lại, họ đi công nhân ở các khu công nghiệp chẳng phải có nhiều tiền hơn hay sao?
- Bà cứ nói với mọi người như đang nói chuyện với cháu là được ạ. Cán bộ bản cũng tìm hiểu kỹ xem bà con có nhu cầu thì mở lớp mời bà giảng dạy. Lớp trẻ còn sức đi làm thuê nhưng các bác có tuổi, ngoài đồng áng, ngoài chăn con lợn, con gà, trồng cây ăn quả thì cũng muốn có thêm một nghề phụ. Bà vừa là người chỉ dạy vừa là tổ trưởng đánh giá chất lượng nữa. Cán bộ thôn, xã sẽ liên hệ, tìm kiếm bên đứng ra thu mua. Bà cứ yên tâm và mong bà đừng từ chối.
- Tôi chưa đau yếu phải nằm một chỗ hay cần người đón đưa, dù ba lần chết hụt. Nhưng các anh không nghe người ta bảo tôi từng bị gọi là bà điên à?.
Anh Hợp lắc đầu:
- Chỉ những người suy nghĩ nông cạn mới nói ra được câu đấy, bà à! Ơn thế hệ cha ông, chúng cháu chỉ mong bà sống vui, sống khỏe đã mừng, nay bà còn nhận lời giúp nhiều người có thêm việc làm ngay tại quê hương, lại giữ nghề truyền thống dân tộc, còn mong gì hơn thế. Tài này, em học thêm lớp đan lát ngắn ngày của bản tổ chức nhé. Muốn làm nội dung số, mình phải thạo nhiều nghề. Đừng nghe bà Ngần nói khiêm tốn vậy mà cho là vậy. Bà là tấm gương của bản. Cháu sẽ giúp bà soạn, in tài liệu. Còn Tài, em cũng tham gia hỗ trợ bà và giúp tổ chức lớp nhé.
Nói rồi anh hướng dẫn cách quay cảnh bằng điện thoại thế nào cho đẹp. Tôi lấy sổ tay ra ghi chép từng câu lệnh, từng thao tác giữ máy, lia cảnh và ý tưởng anh Hợp truyền đạt lại cho mình trong hai tiếng đồng hồ. Bà Ngần đeo kính lão, ngồi giở từng trang tài liệu, gạch chân những chỗ quan trọng và thêm thắt câu từ.
Rồi anh Hợp kể thêm về bà Ngần. Bà là thanh niên xung phong, tham gia kháng chiến, ba lần cận kề cái chết, từng bị dư chấn ở đầu, bị thương ở tay nhưng bà vẫn đi làm công nhân, vẫn chăm mẹ già, nuôi con nhỏ để chồng yên tâm công tác xa. Nghỉ hưu, bà Ngần cũng chưa nghỉ ngơi ngày nào, chồng mất, con cháu đều là bộ đội, bà ở một mình, vừa đan lát vừa dệt thổ cẩm để góp tiền cho quỹ khuyến học. Anh Hợp vẫn nhớ mãi lời bà dặn khi anh đi học Học viện Biên phòng: “Cháu là bông hoa vàng của bản, dù có đi lên biên giới hay ra đảo xa vẫn mang hương thơm của núi rừng Nà Kép”. Anh bảo anh biết tôi muốn đi học đại học. Đừng sợ người ta nói tốt nghiệp đại học vẫn thất nghiệp mà nản chí. Cơ hội của mỗi người đôi khi chỉ có một lần trong đời. Anh bảo tôi nếu có khó khăn gì cứ gọi anh.
Tôi thấy xấu hổ khi bấy lâu nay chưa hiểu về bà Ngần. Xong việc, tôi quyết định chở bà từ nhà anh Hợp sang nhà ông Minh. Trên đường đi, bà kể cho tôi nghe chuyện ngày bà học chữ khi là thanh niên xung phong. Bà tập viết họ tên của mình bằng than củi trên nền đất, dần dà viết được thư gửi người thương làm nhiệm vụ lái xe tải vào chiến trường miền Nam. Bà thêu chữ lên từng vuông thổ cẩm, thêu tên con lên gối gửi hàng xóm trông những tối bận bịu vào nhà máy tăng ca. Đối với bà, con chữ quý như hạt ngô, hạt gạo ngày giáp hạt. Bà kể về ông, từ chiến sĩ lái xe Trường Sơn tới người lính bảo vệ biên cương Tổ quốc, cho đến khi nghỉ hưu vẫn miệt mài với những chuyến đi tìm hài cốt liệt sĩ. Bà muốn học lên cao, muốn làm cô giáo nhưng chiến tranh đã cắt ngang ước mơ của bà. Nhưng bà gửi ước mơ ấy cho thế hệ sau. Những năm này, bà vẫn lặng lẽ giấu tên, gửi cho những đứa trẻ ham học trong đó có tôi những phần thưởng mỗi khi đạt thành tích cao.
Từ những chiếc lạt tre, trúc được chuốt mềm mỏng, dưới đôi tay thoăn thoắt của bà Ngần biến thành chiếc túi xách, chiếc rổ tròn xinh và trải rộng thành chiếc chiếu tinh xảo. Lớp học trọng cầm tay chỉ việc, học viên được dạy cách chọn lạt cật, lạt dẹt, vào góc, lấy khuôn mẫu sao cho đều. Hôm nào bận ngày mùa, lớp mở vào buổi tối ở nhà văn hóa. Các chị em gái thì sôi nổi hơn, hát lượn, hát sli đối đáp với nhau lúc lựa chỉ màu, xe sợi, đưa thoi. Có đơn hàng đan lát và thổ cẩm đặt từ nước ngoài, toàn tiếng Anh. Tôi dịch và giúp các cô phụ trách gửi thư trao đổi. Mắt bà Ngần lấp lánh hy vọng. Thì ra, nhờ việc này mà ước mơ được đứng trên bục giảng của bà sau 50 năm, nay đã trở thành hiện thực.
*
* *
Tối hôm nhận giấy báo trúng tuyển của Trường Đại học Sư phạm, Khoa Tiếng Anh, mẹ rưng rưng bảo tôi:
- Mẹ chỉ biết cặm cụi làm việc, không muốn để con thua thiệt. Bà Ngần nói sẽ giúp gia đình mình một khoản, coi như cho mượn để con yên tâm học tập. Bao giờ con có việc làm ổn định thì gửi lại bà. Tiền nong là việc khó, nhưng quan trọng là con kiên trì học tập.
Tôi gửi tin nhắn cho anh Hợp. Anh chúc mừng và động viên tôi theo đuổi ước mơ. Ân tình của những người như anh Hợp, bà Ngần, cả đời này, tôi không bao giờ quên được. Họ đã cho tôi những bài học còn ý nghĩa hơn bất kỳ trường lớp nào. Tôi thầm thấy thật may mắn vì có những người thầy ở bản.
| Không cầu kỳ, hoa mỹ, tác giả kể câu chuyện một cách nhẹ nhàng, đậm chất miền núi. Thành công của truyện là tác giả đã khéo chọn lọc, đan xen những cử chỉ, lời khuyên nhủ, hành động của các nhân vật trong lời kể, để rồi dẫn đến thông điệp được mở ra ở câu kết. Hóa ra, không phải chỉ những người ngày ngày lên lớp mới là thầy giáo. “Người thầy” còn là người biết khai mở cho người khác một con đường sáng trong cuộc sống. (Nhà văn HỒ THỦY GIANG) |
Truyện ngắn của HOÀNG THỊ HIỀN