Trong tổ dân phố nơi tôi sinh sống, có mấy cụ về hưu yêu thơ, thích đánh cờ tướng. Sáng cuối tuần, các cụ hay sang nhà ông hàng xóm cạnh nhà tôi để vừa đánh cờ vừa đàm đạo thơ phú.

Hôm thì cụ này khoe mới làm được bài thơ hay, hôm lại bàn luận về thơ của người này khó đọc, khó hiểu, người kia dễ đọc, dễ nhớ...

Có hôm, tôi đánh liều hỏi các cụ điều gì làm nên chất của thơ thì mỗi người trả lời một kiểu. Người thì nói, chất của thơ là cảm xúc. Người thì bảo, chất của thơ nằm ở chỗ có vần, có điệu, có "nhãn tự" và giàu nhạc tính...

Tóm lại, nghe các cụ nói tôi càng rối thêm.

Tôi quyết định tìm tài liệu để đọc xem thơ và chất của thơ là gì?

leftcenterrightdel

Minh hoạ: Lê Anh 

Người đặt nền móng cho chủ nghĩa lãng mạn đầu thế kỷ 19, William Wordsworth đã định nghĩa: Thơ là sự tuôn trào tự nhiên của những cảm xúc mãnh liệt, bắt nguồn từ những cảm xúc được hồi tưởng trong tĩnh lặng. Từ định nghĩa này đã mở ra một cuộc cách mạng trong quan niệm về thơ. Lần đầu tiên, cảm xúc cá nhân được đặt ở vị trí trung tâm. Thơ không chỉ là nghệ thuật của niêm luật hay phép tu từ, mà trở thành tiếng nói của đời sống nội tâm.

Trong cuốn Thi pháp học (Nghệ thuật thơ ca), Aristotle viết về nhiệm vụ của nhà thơ, đại ý là, nhà sử học nói về những điều đã xảy ra thực sự, còn nhà thơ thì nói về những gì có thể xảy ra.

Nhận định ấy cho thấy, thơ không chỉ là sự sao chép hiện thực. Ví dụ, cùng viết về một cơn mưa, nhà sử học quan tâm mưa xảy ra khi nào, ở đâu, ảnh hưởng ra sao; còn nhà thơ lại quan tâm cơn mưa ấy chạm vào ký ức, thân phận và tâm hồn con người như thế nào. Lịch sử lưu giữ sự kiện, còn thơ lưu giữ ý nghĩa.

Khi lần tìm các tài liệu, tôi thấy nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, cảm xúc là điều kiện cần, nhưng chưa phải điều kiện đủ của một bài thơ.

T.S.Eliot, một gương mặt tiêu biểu của chủ nghĩa hiện đại đã phản biện quan niệm tuyệt đối hóa cảm xúc. Ông cho rằng thơ không đơn thuần là sự giải phóng cảm xúc hay biểu hiện cái tôi, mà là một quá trình lao động nghệ thuật, trong đó cảm xúc được tổ chức, chuyển hóa và đặt vào truyền thống văn hóa. Nói cách khác, cảm xúc trong thơ không phải cảm xúc thô mà là cảm xúc đã được nghệ thuật hóa.

Nghiên cứu thi học phương Đông, tôi thấy người xưa không định nghĩa thơ là gì mà quan tâm thơ đạt đến đâu. Từ đó mới xuất hiện những quan niệm như “ý tại ngôn ngoại”, “ngôn hữu tận, ý vô cùng”, “thi dĩ ngôn chí”, “thần cú”, “nhãn tự”... Dù cách diễn đạt khác nhau, nhưng chúng đều gặp nhau ở một điểm: Giá trị, chất của thơ không nằm ở điều đã nói mà ở điều còn ngân lên sau câu chữ.

Từ những nghiên cứu và đối sánh thực tế, tôi rút ra kết luận nho nhỏ. Mỗi học giả đều nắm bắt một phương diện của thơ, chất thơ rồi đưa ra các khái niệm khác nhau. Chất thơ không phải là vần, niêm luật, cảm xúc hay ngôn từ. Bởi vì, cùng viết về một cánh đồng, người nông dân nhìn thấy mùa màng; nhà địa lý nhìn thấy địa hình; nhà kinh tế nhìn thấy năng suất; còn nhà thơ nhìn thấy số phận con người, thời gian và ký ức. Cánh đồng không thay đổi. Điều thay đổi là cách nhìn.

Có lẽ bởi vậy mà suốt hơn hai nghìn năm qua, nhân loại vẫn chưa có một định nghĩa cuối cùng về thi ca. Điều này cho thấy, các cụ hưu trí ở phố tôi quan niệm khác nhau về thơ và chất của thơ cũng là điều dễ hiểu.

Sau này, khi ngồi với một nhà nghiên cứu lý luận văn học, tôi được ông phân tích rõ hơn về thơ và chất của thơ.

Ông nói, suy cho cùng, mọi yếu tố cảm xúc, hình tượng, nhạc điệu, ngôn ngữ chỉ là phương tiện làm ra chất thơ. Bởi nghệ thuật của thơ không nằm ở việc viết khác người mà ở khả năng nhìn khác người. Chính từ cái nhìn ấy mới sinh ra hình tượng. Từ hình tượng mới sinh ra ngôn ngữ. Và từ ngôn ngữ mới sinh ra dư âm. Đó là hành trình biến một trải nghiệm đời sống thành một trải nghiệm thẩm mỹ.

Sau nhiều nguồn thông tin, tôi hiểu rằng, đích đến và cũng là chất của thơ là để lại một dư âm trong tâm trí người đọc. Dư âm ấy có thể là một hình ảnh, một câu thơ, một nhịp điệu hay một khoảng lặng. Khi dư âm ấy không chịu rời đi, nó trở thành ám ảnh. Và chính sức ám ảnh là dấu hiệu rõ nhất cho thấy bài thơ đã có chất.

Một bài thơ thất bại không phải vì người đọc không hiểu. Mà vì sau khi đọc xong, họ không còn nhớ điều gì. Ngược lại, một bài thơ thành công là bài thơ vẫn tiếp tục được đọc trong trí nhớ, ngay cả khi trang giấy đã khép lại. Ví dụ, trong bài “Dấu chân qua trảng cỏ” của nhà thơ Thanh Thảo có đoạn gây ám ảnh: “Thời gian như cỏ vượt lên/ Lối mòn như sợi chỉ bền kéo qua/ Ai đi gần ai đi xa/ Những gì gợi lại chỉ là dấu chân”.

Sức ám ảnh trong bốn câu thơ nằm ở giọng điệu bình thản trước sự lãng quên nghiệt ngã của thời gian. Biến thời gian vô hình thành "cỏ", tác giả gợi ra một sức sống lầm lũi, lặng lẽ mọc trùm và xóa nhòa mọi dấu vết kiếp người. Giữa dòng đời ngược xuôi “ai đi gần ai đi xa”, câu kết buông xuống một sự thật tối giản đến nhói lòng: Tất cả chỉ đọng lại ở hai chữ “dấu chân”. Không gào thét, không bi lụy, chính sự tiết chế và cái nhìn điềm nhiên trước sự biến mất ấy tạo nên một khoảng trống mênh mông, găm vào lòng người đọc nỗi ngậm ngùi dai dẳng về sự hữu hạn của đời người.

Một ví dụ khác về thơ Việt đương đại có độ ám ảnh cao là bài “Tự hát” của Xuân Quỳnh: “Em trở về đúng nghĩa trái tim em/ Là máu thịt đời thường ai chẳng có/ Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa/ Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi”.

Đoạn thơ ám ảnh ở chỗ đẩy tình yêu vượt khỏi giới hạn sinh học của sự sống. Trái tim vốn chỉ tồn tại trong nhịp đập đời thường, nhưng ở đây lại tiếp tục “yêu” ngay cả khi đã ngừng đập. Sự nghịch lý ấy tạo ra một cú lệch logic mạnh, khiến cảm xúc không còn thuộc về hiện tại mà kéo dài sang cả cái chết. Ám ảnh không nằm ở bi kịch mà ở độ bền tuyệt đối của tình yêu, như một ý niệm không thể bị hủy diệt. Người đọc bị giữ lại trong một vùng cảm xúc không có điểm kết thúc.

Trong kho tàng thi ca Việt Nam, tùy vào thời kỳ, tùy vào căn cứ khác nhau mà có các thể loại thơ khác nhau. Mỗi thể loại thơ có một đặc trưng riêng. Thơ hiện đại Việt Nam nổi bật ở hình thức tự do, đề cao cái tôi cá nhân, ngôn ngữ đời thường giàu biểu tượng, giàu tính gợi hơn tả, và thường khai thác thân phận con người trong biến động lịch sử-xã hội. Còn thơ hậu hiện đại lại mang đặc trưng bởi cấu trúc phân mảnh, phi tuyến tính, nhiều giọng nói; cái tôi trữ tình bị phân rã; ngôn ngữ mang tính trò chơi, giễu nhại; và ý nghĩa mở, bất định, không có trung tâm cố định.

Tuy nhiên, dù phân loại khác nhau và ở các thời kỳ khác nhau thì thơ đều phải quy về điểm chung đó là sự ám ảnh đến mức nào? Đây chính là chất của thơ, là cái người yêu thơ đi tìm. Đó cũng chính là giá trị sâu đậm nhất khiến người yêu thơ không ngừng đến với thơ.

VIỆT DANH