Trên thế giới, nhất là các nước Âu Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc, công nghiệp âm nhạc phát triển rất mạnh và mang về cho họ nguồn thu nhập rất lớn. Không những vậy, công nghiệp âm nhạc của họ còn được xem là kênh quan trọng để “xuất khẩu văn hóa”. Do mang lại nhiều lợi ích nên công nghiệp âm nhạc được chú trọng đầu tư rất bài bản.
Công nghiệp âm nhạc (Music Industry) là một thuật ngữ chỉ toàn bộ hệ thống các tổ chức, cá nhân, quy trình và hoạt động kinh tế tham gia vào việc sáng tác, sản xuất, phân phối, quảng bá và thương mại hóa các sản phẩm âm nhạc hoặc dịch vụ liên quan. Ngành công nghiệp âm nhạc có mạng lưới phức tạp với sự tham gia của nhiều thành phần và đảm nhiệm những vai trò khác nhau, được chia thành các nhóm chính. (1) nhóm sáng tạo và biểu diễn, bao gồm nhạc sĩ, nhà sản xuất âm nhạc, ca sĩ/nghệ sĩ biểu diễn và các nhạc công. (2) quản lý và đại diện, gồm các nhà quản lý nghệ sĩ, công ty quản lý, luật sư và các đại lý đặt lịch nhằm bảo vệ quyền lợi và định hướng sự nghiệp cho nghệ sĩ. (3) các hãng đĩa, bao gồm các đơn vị đầu tư tài chính, chịu trách nhiệm sản xuất các bản thu âm, tiếp thị và phân phối sản phẩm. (4) xuất bản âm nhạc, bao gồm đơn vị quản lý bản quyền của bài hát (phần nhạc lý và lời ca) có nhiệm vụ bảo đảm nhạc sĩ nhận được tiền tác quyền khi bài hát được sử dụng. (5) sự kiện và biểu diễn trực tiếp, bao gồm các nhà tổ chức sự kiện, bầu show, đơn vị bán vé và các sân vận động/nhà hát. Đây là nơi có nguồn thu rất lớn thông qua các buổi concert, liveshow và lễ hội âm nhạc.
Công nghiệp âm nhạc hiện đại vận hành dựa trên các dòng tiền chính: Doanh thu kỹ thuật số nhờ vào các nền tảng phát nhạc trực tuyến (Spotify, Apple Music, YouTube Music); doanh thu từ bán đĩa vật lý CD, đĩa than (vinyl) và các ấn phẩm đặc biệt (album của các nhóm nhạc); doanh thu từ biểu diễn trực tiếp, bán vé concert, bán đồ lưu niệm tại sự kiện. Ngoài ra còn nguồn doanh thu từ tác quyền khi âm nhạc được phát trên radio, truyền hình, nhà hàng, quán cà phê hoặc được sử dụng trong phim ảnh, trò chơi điện tử, quảng cáo...
Ngành công nghiệp âm nhạc thế giới đã trải qua những cuộc cách mạng lớn về mặt công nghệ từ thấp đến cao. Sau giai đoạn các hãng đĩa lớn thống trị do nắm giữ chuỗi sản xuất và phân phối độc quyền đĩa nhựa, băng cassette và đĩa CD là đến thời kỳ kỹ thuật số với đặc điểm là internet và công nghệ streaming đã dân chủ hóa ngành âm nhạc.
Nghệ sĩ ngày nay có thể tự sản xuất tại nhà và phân phối trực tiếp đến khán giả toàn cầu qua mạng xã hội và các nền tảng số mà không nhất thiết phải ký hợp đồng với các hãng đĩa lớn. Tuy nhiên, điều này cũng tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt hơn bao giờ hết.
Thực tế ở nhiều quốc gia cho thấy, một tổ hợp biểu diễn hiện đại không chỉ phục vụ âm nhạc. Đó còn là hạ tầng của du lịch, thương mại, dịch vụ, hội nghị, triển lãm và kinh tế ban đêm. Một buổi hòa nhạc có thể kéo theo hàng nghìn lượt khách sử dụng dịch vụ lưu trú, hàng không, vận tải, mua sắm và ẩm thực. Giá trị kinh tế mà nó tạo ra vượt xa doanh thu bán vé.
    |
 |
Mở đường cho công nghiệp âm nhạc cất cánh. Ảnh minh họa: LÊ ANH
|
Tại Việt Nam, công nghiệp âm nhạc đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ, tiến dần lên sự chuyên nghiệp hóa với thế hệ nghệ sĩ trẻ tự chủ cùng sự xuất hiện của các concert quy mô lớn và việc thắt chặt thực thi luật sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, những thành công ấy còn rất khiêm tốn vì nhiều nguyên nhân.
Theo đánh giá của các chuyên gia, công nghiệp âm nhạc Việt Nam hôm nay không thiếu tiềm năng, cũng không thiếu khát vọng, nhưng phần thiếu quan trọng nhất chính là hạ tầng biểu diễn. Đó là những thiết chế biểu diễn đạt chuẩn quốc tế, như: Nhà hát đa năng có mái che, trung tâm biểu diễn tích hợp, hệ thống kỹ thuật âm thanh, ánh sáng, hậu cần...
Trong nhiều năm qua, phần lớn các chương trình âm nhạc quy mô lớn đều phải tổ chức tại sân vận động hoặc quảng trường ngoài trời. Những không gian vốn được thiết kế cho thể thao hoặc các sự kiện cộng đồng phải “gánh” những yêu cầu rất khắt khe của nghệ thuật biểu diễn hiện đại. Mỗi chương trình đều phải đầu tư hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ đồng để dựng sân khấu tạm, xử lý âm học, lắp đặt hệ thống âm thanh, ánh sáng, màn hình và hàng loạt thiết bị kỹ thuật khác. Điều đó không chỉ làm tăng chi phí sản xuất mà còn làm tăng giá vé, tăng rủi ro và giảm hiệu quả khai thác.
Một điểm khó khác cản trở sự phát triển của công nghiệp âm nhạc Việt Nam chính là sự thiếu hụt đội ngũ nhân lực chất lượng cao phía sau sân khấu. Đó là đạo diễn nghệ thuật, giám đốc sản xuất, nhà quản lý nghệ sĩ, kỹ sư âm thanh, kỹ sư ánh sáng, chuyên gia thiết kế sân khấu, chuyên viên truyền thông, quản lý tour, luật sư bản quyền, chuyên gia marketing, kỹ thuật viên phát trực tiếp... Đây là những người không xuất hiện trước công chúng nhưng lại có vai trò rất quan trọng, nếu không muốn nói rằng họ là những người quyết định chất lượng và đẳng cấp của một chương trình biểu diễn.
Ở các quốc gia có nền công nghiệp âm nhạc phát triển, mỗi vị trí ấy đều là một nghề chuyên nghiệp, được đào tạo bài bản và vận hành theo các chuẩn mực quốc tế. Trong khi đó, tại Việt Nam, nhiều khâu vẫn dựa vào kinh nghiệm thực tiễn hoặc mô hình “vừa làm vừa học”. Không ít chương trình lớn vẫn phải thuê chuyên gia nước ngoài cho những vị trí kỹ thuật quan trọng.
Khoảng trống ấy không chỉ làm tăng chi phí tổ chức mà còn hạn chế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Quan trọng hơn, nó cho thấy chúng ta đang chú trọng đào tạo người biểu diễn nhiều hơn đào tạo những người tạo nên ngành công nghiệp. Bởi vậy, cùng với việc phát hiện và bồi dưỡng tài năng nghệ thuật, cần quan tâm nhiều hơn đến việc đào tạo nguồn nhân lực phía sau sân khấu. Các cơ sở đào tạo văn hóa, nghệ thuật, kỹ thuật và quản trị cần được kết nối với doanh nghiệp để hình thành những chương trình đào tạo sát với nhu cầu thị trường. Khi nguồn nhân lực được chuẩn hóa, công nghiệp âm nhạc mới có thể phát triển bằng chính nội lực của mình.
Cũng theo các nhà nghiên cứu âm nhạc, điều thế giới tìm kiếm ở âm nhạc không chỉ là những giai điệu bắt tai mà là bản sắc văn hóa, những câu chuyện mang tính phổ quát được kể bằng ngôn ngữ riêng của mỗi dân tộc. Thành công của Hàn Quốc với K-pop, của Anh với ngành công nghiệp biểu diễn hay của Hoa Kỳ với thị trường giải trí toàn cầu đều cho thấy một quy luật: Khi văn hóa trở thành sản phẩm có giá trị kinh tế, nó đồng thời trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Việt Nam có một kho tàng âm nhạc phong phú, có đội ngũ nghệ sĩ trẻ năng động, có một thị trường hơn 100 triệu dân và ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới. Đó là những lợi thế rất đáng kể. Xuất khẩu âm nhạc hôm nay không còn đơn thuần là đưa một ca sĩ đi biểu diễn ở nước ngoài. Đó là xuất khẩu bản quyền, xuất khẩu chương trình biểu diễn, xuất khẩu lễ hội âm nhạc, nhạc phim, dịch vụ sản xuất, thương hiệu nghệ sĩ và cả những trải nghiệm văn hóa gắn với du lịch.
Khi một lễ hội âm nhạc quốc tế được tổ chức thành công, hưởng lợi không chỉ là đơn vị tổ chức hay nghệ sĩ, mà các ngành như: Hàng không, khách sạn, nhà hàng, thương mại, quảng bá hình ảnh địa phương và du lịch đều được hưởng lợi. Đó chính là giá trị lan tỏa mà ngành công nghiệp văn hóa (CNVH) mang lại.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu về sáng tạo và sức mạnh mềm ngày càng gay gắt, âm nhạc cần được nhìn nhận đầy đủ hơn như một ngành CNVH, nơi tài năng nghệ thuật gặp gỡ khoa học-công nghệ, nơi bản sắc dân tộc kết nối với thị trường và nơi giá trị tinh thần được chuyển hóa thành giá trị kinh tế. Gỡ những “nút thắt” của công nghiệp âm nhạc, vì thế, không chỉ là tháo gỡ khó khăn cho một lĩnh vực nghệ thuật. Đó là mở đường cho một ngành kinh tế sáng tạo phát triển, góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng các ngành CNVH trở thành động lực tăng trưởng mới của đất nước.
Khi những “nút thắt” được tháo gỡ, âm nhạc Việt Nam sẽ không chỉ lấp đầy những khán phòng trong nước mà còn có thể mang theo bản sắc, tâm hồn và khát vọng Việt Nam vang lên trên những sân khấu lớn của khu vực và thế giới.
PHƯƠNG NGUYỄN