Bà Xuyến ngồi phịch xuống cái ghế gỗ. Người bà rũ xuống, già nua, mỏi mệt tận cùng. Suốt những ngày này, bà cứ phải cương lên, gồng lên trước ông, sao không mệt cho được. Vẫn biết, hàng chục vạn liệt sĩ đang được tìm kiếm, xác định danh tính trong Chiến dịch 500 ngày đêm kia là những đồng đội của ông, là anh trai của bà, hơn ai hết, bà khao khát muốn tìm thấy anh trai mình chứ. Kể từ khi thấy tên mình trong danh sách thân nhân liệt sĩ đủ điều kiện lấy mẫu xét nghiệm ADN tới giờ, bà không có một giấc ngủ ngon. Cảm giác lo lắng pha lẫn phập phồng trông đợi cứ khiến tay chân bà run rẩy, làm việc mất tập trung. Ông nhà bà thì suốt hai tháng nay không rời ti vi, chỉ để theo dõi chương trình tìm kiếm đồng đội.
Hôm nay đã sang ngày thứ năm, tỉnh nhà triển khai lấy mẫu xét nghiệm ADN ở các điểm đã quy định. Thấy bảo đã thu được mấy trăm mẫu sinh phẩm ADN rồi. Làng này có ba liệt sĩ chưa được tìm thấy, nhưng có ai mà hoàn cảnh éo le như anh trai của bà không. Ngày mai là tới lượt của bà và các thân nhân liệt sĩ trong vùng. Làm thế nào bây giờ? Bà cứ nghĩ, mọi chuyện trôi qua đã hơn nửa thế kỷ. Bà cũng bảy lăm tuổi rồi, còn cay đắng, ngọt bùi nào chưa trải. Nhưng tại sao, bây giờ, một lần nữa, những đắng đót ấy lại hiển hiện?
Bà Xuyến nghĩ mấy đêm mà chưa ra cách nào. Không tìm thấy bất cứ liên hệ nào, tất cả cứ mịt mù như sương đặc quẩn quanh trước mắt, bịt kín mọi con đường. Bây giờ, tuổi này, đâu còn minh mẫn nữa. Bố mẹ bà đều đã về nơi chín suối. Anh Cần và ông Chung, chồng bà là bạn thân của nhau, đều nhập ngũ đầu năm bảy mươi và cùng vào Quảng Trị-mặt trận được coi là cam go ác liệt nhất giai đoạn đó. Bà và anh Cần là anh em sinh đôi. Anh trai bà hy sinh đầu năm bảy mốt.
Sau ngày giải phóng, gia đình bà và đồng đội của anh Cần vẫn không ngừng tìm kiếm suốt bao nhiêu năm. Nhưng đây là giai đoạn nhiều hy vọng nhất. Các con bà thì luôn cho rằng, bác của chúng đang được yên nghỉ trong Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9, chỉ là chưa xác định được danh tính thôi. Sự an ủi của chúng cũng khiến lòng bà nhẹ nhàng phần nào. Rồi đến lúc bà cũng nghĩ thoáng ra. Quê hương, đất nước, anh nằm chỗ nào thì chỗ ấy cũng là quê hương, người dân nơi đó cũng là ruột thịt, bầu bạn của anh.
Sáng nay, khi đặt lên bàn thờ anh những trái ổi, trái dứa chín thơm từ vườn nhà, bà Xuyến đã chắp tay khẩn cầu: “Anh sống khôn thác thiêng thì báo mộng cho em, cho các cháu, vị trí cụ thể anh nằm, để mọi người nhanh chóng đưa anh về nhà”. Nhưng làm thế nào để ngủ ngon, làm thế nào để anh trai bà, liệt sĩ Cao Trung Cần có thể báo mộng, thì bà chưa biết.
Ký ức như dòng sông, mà đời người thì có bao nhiêu ghềnh thác thăng trầm, vì thế, thứ quên thứ nhớ. Nhưng có những mảnh ký ức thì vẫn vẹn nguyên như bảo vật được cất giữ cẩn thận, bà vẫn thường mơ thấy nó.
Ông Chung vẫn ngồi trên xe lăn, rời ti vi là đến báo giấy. Rất chăm chú. Độ này, cái chân cụt của ông không ngừng đau nhức. Cái chân còn lại, sau cú ngã hai năm trước bị gãy phải bó bột, thì bây giờ, ngay cả việc chống nạng đi lại cũng muôn vàn khó khăn. Suốt hai năm ngồi xe lăn, tính cách của ông trở nên trầm lặng, đôi lúc cáu kỉnh, chứ không còn sôi nổi như trước nữa. Ấy thế, thời gian gần đây, tinh thần ông phấn chấn lên hẳn. Xem ra, Chiến dịch 500 ngày đêm này đã tác động vào ông ấy, khiến khí thế tuổi đôi mươi trong ông sống dậy. Ông chăm chỉ tập luyện hơn và tâm sự nhiều hơn. Chiến dịch này không chỉ là tìm kiếm, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ mà còn vực dậy tinh thần "chiến đấu" với bệnh tật, khó khăn trong cuộc sống của những cựu chiến binh, thương binh và thắp lên trong lòng gia đình thân nhân những ngọn lửa hy vọng từng có phen tưởng như lụi tắt.
Bà đã quyết định rồi. Phải kể cho ông nghe câu chuyện về anh trai bà. Để ông ấy cùng nghĩ cách.
Liệt sĩ Cao Trung Cần là người anh song sinh của bà. Hai người cùng lớn lên cạnh nhau 18 năm 3 tháng tính đến ngày anh ấy nhập ngũ. Anh hy sinh khi tuổi vừa tròn đôi mươi. Nhưng năm nào, sinh nhật bà, các con cháu cũng cẩn thận mua thêm cho anh một món quà, rồi hóa gửi đi, mong bác của chúng, ông của chúng nhận được và vui vẻ.
Bà vẫn nhớ năm bà mười tuổi. Hai anh em đang mót lúa ngoài đồng, gặp mưa thì chạy về. Đến nhà thì mẹ bà đang trở dạ chuẩn bị sinh đứa em thứ 4. Bố giao cho anh Cần đi đun nước. Vì mưa bất ngờ không kịp trở tay, củi ngoài sân ướt hết. Bếp dột khói um. Anh Cần nhanh trí rút ngay một mảnh giát giường ra nhóm bếp. Rồi nước cũng sôi. Anh Cần đun nước xong thì bố lại sai đi báo tin cho bà ngoại. Bà nghe mẹ nói là ngần ấy đứa con mẹ sinh ra đều do bố đỡ, nhưng bà Xuyến chưa từng xem mẹ sinh em lần nào. Lúc đó, dù rất ngại nhưng bà Xuyến vẫn hé cửa liếp ra nhìn trộm em bé. Bà Xuyến thấy bố đang hân hoan vui mừng nói khẽ với mẹ “Thằng chống gậy của tôi đây rồi”. Rồi bà Xuyến thấy mẹ ho khẽ. Giống như một tín hiệu khiến bố phải kìm hãm cái sự vui mừng lại. Nghe tiếng em bé khóc oa oa vang dội cả ba gian nhà tranh, thấy mắt bố sáng lên thì lòng bà cũng vui.
Nhiều năm sau, bà Xuyến mới hiểu “thằng chống gậy” nghĩa là gì. Nhưng bà vẫn không hiểu một chỗ, nhà đã có anh Cần, sao bố còn nói em Giát là thằng chống gậy? Trong gia đình, mà không, trong cả cái dòng họ Cao mà bố bà làm trưởng họ ấy, anh Cần là thành viên ưu tú nhất. Anh đẹp trai, thông minh, sáng dạ nhất, bao đứa con gái ở làng thích anh. Bố mẹ, ông bà đều tự hào về anh lắm. Anh Cần được bố mẹ xem như một tấm gương sáng, để các em soi vào. Đến tận sau này, bà vẫn nói với các con cháu của mình là bác Cần, ông Cần giỏi lắm, chịu thương, chịu khó lắm, không nề hà việc nặng nhọc bao giờ...
Cho đến năm ấy, vào một đêm trước ngày anh lên đường nhập ngũ, tự nhiên anh Cần hỏi bố mẹ: “Con đi chuyến này, chắc phải thống nhất mới về, có một điều con muốn hỏi mẹ từ lâu nhưng con không dám, sợ mẹ buồn. Nhưng giờ con lớn rồi, con muốn biết con có phải là con đẻ của bố mẹ không”. Mẹ của bà khi ấy ngơ ngác mất một lúc. Rồi bà ôm anh Cần vào lòng, vỗ về: “Con chính là con mẹ đẻ ra, con ra trước em Xuyến có ba phút thôi, con đừng có nghe người ta đồn thổi vớ vẩn, chắc họ thấy con giống in bên ngoại mà không giống bên nội thì nói thế đấy”. Anh Cần mỉm cười trong nước mắt. Có lẽ anh vui và yên tâm rồi.
Sau này, khi anh Cần hy sinh, mẹ của bà ốm lên ốm xuống vì thương xót con. Bà cụ bảo chồng con là bằng mọi cách phải đưa anh Cần về cho bà. Đến tận trước khi nhắm mắt, bà cụ vẫn không ngừng hối thúc con cháu việc ấy.
Bà Xuyến những lúc đắm mình trong đau đớn, buồn khổ, mỗi lần nhớ đến anh trai, bà lại nhớ đến lời bố và ánh mắt sáng rỡ của ông vào ngày mẹ sinh em út. Có lẽ nào anh Cần không phải "con chống gậy" của bố. Nhưng chính mẹ đã nói, anh Cần do mẹ sinh ra còn gì. Bà và anh Cần lại là anh em sinh đôi. Có khi nào cả bà và anh Cần không phải là con của bố không?
Câu chuyện ấy, có lúc bà cũng quên khuấy đi, nhất là khi các con phương trưởng, bà phải lo ăn lo học, lo dựng vợ gả chồng cho chúng. Chục năm trước, ông cụ thân sinh ra bà ốm rất nặng, biết mình không qua khỏi, ông mới gọi bà về, nói cho bà một sự thật.
Ông cụ nói, bà Xuyến sinh ra được một ngày thì ông cụ đi rừng lấy lá thuốc về tắm cho hai mẹ con. Trên đường về gần tới nhà, ông phát hiện một bé trai sơ sinh chưa rụng rốn được bọc trong tấm áo vải nâu sơ sài ở ngay lối đi, người tím tái và kiến đang bu đầy. Ông lập tức bế đứa bé về. Vì gia đình có nghề thuốc mà đứa trẻ được cứu sống. Mẹ bà khi ấy đã nói: “Cha mẹ con không cần con thì chúng ta cần con”. Vì thế mà về sau, anh trai được đặt tên là Cần. Vợ dặn chồng, sống để dạ, chết mang theo, không được nói với ai về sự thật này, kể cả ông bà nội, kể cả Cần, để con không phải tủi thân. Ai trong làng có hỏi, đều nói sinh đôi. Ngày xưa, gái ở cữ thường ở trong buồng kín cả tháng. Khi mẹ bà bế hai đứa con ra cho họ hàng, xóm giềng xem mặt thì thậm chí họ còn nói, mẹ sinh đôi khéo quá, đứa gái giống cha, đứa trai giống mẹ. Tuy nhiên, một mặt thì giấu kín thân phận anh, một mặt, bố bà vẫn đi dò hỏi tung tích thân phận anh nhưng đều không có kết quả gì. Ông nghĩ, người sinh con chỉ là một phụ nữ đi qua vùng này thôi. Chiến tranh ly loạn, khó mà toại ý, có khi bỏ con cũng là bất đắc dĩ. Chính vì cái sự ông cụ đi dò hỏi người trong vùng mà anh Cần biết và nghi ngờ bố mẹ đang giấu thân phận thật sự của mình nên đã hỏi mẹ vào đêm trước khi nhập ngũ.
Mẹ bà, cả khi nhắm mắt xuôi tay cũng đem theo bí mật ấy. Bà Xuyến biết, anh Cần là niềm tự hào vô bờ bến của cả dòng tộc, làng xã. Chuyện anh gan dạ, dũng cảm như thế nào, đồng đội anh, những người trở về đều kể rõ ràng, mạch lạc. Nhưng bây giờ, chính cái gốc gác, nguồn cội mù mờ của anh lại thành trở ngại khi gia đình đang đứng trước cơ hội rất lớn để đón anh về đoàn tụ với cha mẹ, các em và các cháu.
Bà Xuyến suy nghĩ rất lâu rồi quyết định mở lời. Bà kể cho chồng nghe về những điều mình giữ kín nhiều năm. Để xem có cách nào không. Ông Chung nghe xong cũng lặng người. Ông không trách bà vì đã giấu ông một chuyện lớn như thế.
Chẳng như thế nào cả. Cứ đi gặp cán bộ trình bày cụ thể câu chuyện. Ông Chung nói với bà rằng, xương thịt thì cái còn cái mất, cái tan vào đất rồi, có tìm về cũng để an ủi người sống thôi. Chứ linh hồn con người ấy à, chả vi vu khắp mọi nơi. Toàn mười chín, đôi mươi phơi phới, bà nghĩ là chịu ở yên một chỗ chắc. Tôi nhiều lần nằm mơ thấy bác ấy, lần nào bác ấy cũng bảo kể chỗ đó anh em đồng đội quây quần bên nhau vui lắm. Bác ấy còn khoe đi mây về gió. Về quê suốt, đi thăm đồng đội suốt, còn đe tôi nếu không tốt với bà thì liệu hồn. Mới đây bác còn khen thằng Phương nhà mình xây cái nhà to quá, thiết kế đẹp quá. Cho nên, bà không phải lo gì sất. Ngày mai, bà cứ đẩy tôi đến đó. Việc còn lại tôi lo.
Biết là ông nhà bà đang bịa tạc, lấy lòng bà. Nhưng không hiểu sao bà thấy lòng dạ an ổn hẳn. Anh trai bà đi trẻ thế, thiêng lắm. Không chừng, cuộc trò truyện này, bác ấy cũng nghe hết, biết quê hương, người thân đang trông đợi, bác ấy cũng sẽ chuẩn bị để trở về.
|
“Nắm đất” là một biểu tượng đa nghĩa, là nơi chôn nhau cắt rốn, là nơi người liệt sĩ nằm lại, cũng có thể là sự trở về quê hương qua nắm đất-mà thịt xương người lính đã hòa tan vào đó. Đó còn là ký ức, căn cước, là mối liên hệ con người với quê hương, giữa người sống với người đã khuất... Trong truyện ngắn này, chiến tranh hiện lên không qua những trận đánh mà qua nỗi day dứt kéo dài nhiều thập kỷ. Lối kể giản dị, giàu cảm xúc, khai thác chiều sâu tâm lý nhân vật và cách lựa chọn tình huống nhân văn, ám ảnh, truyện ca ngợi vẻ đẹp của những con người bình thường mà cao cả. Vừa là câu chuyện thời sự tìm kiếm, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, cũng là hành trình về với cội nguồn bản sắc văn hóa: Biết ơn quá khứ để hướng tới tương lai... (PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ)
|
Truyện ngắn của TỐNG NGỌC HÂN