Bố mẹ tôi đã khuất núi. Căn nhà cũ của gia đình, theo lời bố dặn, tôi đã hiến cho dòng họ làm nhà thờ tổ. Một năm, tôi chỉ tạt qua làng vào dịp tảo mộ và ngày giỗ chạp. Chẳng biết từ lúc nào, quê hương đối với tôi chỉ còn là một cái tên mờ nhạt nằm sâu trong ký ức. Không về thì áy náy, mà về thì lúc nào cũng phải tính toán sắp xếp thời gian.
Nhà thầy Thành nằm ở cuối làng, giáp cánh đồng. Con đường đất mùa hè bụi mù, mùa mưa bùn trơn trượt năm xưa nay đã đổ bê tông sạch sẽ. Cái ao bèo lấm tấm hoa tím đã bị lấp đi, mọc lên căn nhà hai tầng bề thế. Những mái ngói rêu phong thấp lè tè cũng lần lượt biến mất sau những bức tường quét sơn trắng toát, kín cổng cao tường. Chỉ có căn nhà nhỏ nép dưới hàng cau thầy trồng từ ngày đi bộ đội về là vẫn như trước, tuy đã hằn in vẻ cũ kỹ, già cỗi. Gió từ cánh đồng thổi lên, bứt tàu cau rụng xuống mấy luống rau xanh mướt, khua mặt nước ao gợn sóng lăn tăn. Làng đã mang dáng dấp ồn ã, xô bồ của phố xá, chỉ có căn nhà và mảnh vườn nhỏ của thầy vẫn lặng lẽ, nhẫn nại níu lại chút hồn quê xưa cũ.
Thầy ngồi một mình bên hiên nhà, chăm chú ghi chép. Mái tóc bạc phơ nghiêng nghiêng cúi xuống cuốn sổ tay nhỏ. Nghe tiếng mở cổng, thầy ngẩng đầu, nheo mắt nhìn ra. Tôi vừa cất lời chào, thầy đã nhận ra ngay.
- Hùng đấy phải không?
Tôi mừng vì thấy thầy vẫn còn khỏe mạnh, tinh tường. Tôi bước đến, cúi xuống nắm bàn tay gầy guộc của thầy. Thầy rót cho tôi chén nước vối ủ trong ấm tích, cười hiền hậu:
- Anh Tiến cũng mới về thăm thầy hôm cuối tuần vừa rồi. Chút bệnh vặt tuổi già ấy mà...
***
Ngày bà nội tôi còn sống, mỗi lần tôi hỏi về thầy, bà hay chép miệng thương thầy Thành khổ từ trong trứng nước. Họ hàng nội ngoại mất hết trong nạn đói năm 1945, bố mẹ thầy lang bạt kỳ hồ, bèo nước gặp nhau rồi dắt díu về làng sau ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ. Thầy lên 3 tuổi thì mẹ mất, bố đi bước nữa. Ông bố đổ bệnh, quanh năm dặt dẹo thuốc thang, biết vợ hắt hủi con mình mà đành bất lực. Bố mất năm thầy lên 9 tuổi, thầy phải nghỉ học đi làm thuê. Một thầy giáo trường làng thương cậu học trò thông minh nhưng bất hạnh đã trích đồng lương ít ỏi để thầy Thành tiếp tục đến lớp.
Đi học một buổi, buổi còn lại thầy làm quần quật, chăn trâu, cắt cỏ, gánh nước, mò cua, bắt ốc. Có bữa cơm chỉ được vét nồi, có hôm đói lả, nhiều bữa đòn roi hằn tím trên lưng. Chật vật thế mà năm nào thầy cũng đứng hạng nhất. Năm thầy học lớp 10, người mẹ kế đổ bệnh liệt giường. Gần một năm trời, thầy Thành đút từng thìa cháo, hầu hạ bà không một lời oán thán. Nhiều người chê thầy nhu nhược, thầy chỉ bảo bố mẹ mất sớm, dẫu dì ấy có cay nghiệt thì vẫn cho thầy miếng cơm, không để thầy bơ vơ nơi đầu đường xó chợ. Chừng ấy cũng đủ để mang ơn cả đời.
Lo ma chay cho mẹ kế xong, thầy viết đơn tòng quân. Đó là những năm chiến trường miền Nam bước vào thời kỳ ác liệt nhất. Sau ngày thống nhất, thầy lại theo đoàn quân tình nguyện làm nhiệm vụ quốc tế cho đến khi bị thương trong một trận đánh. Trở về, thầy bước vào đại học sư phạm, miệt mài học thay cả phần những đồng đội đã hóa thành đất đai xứ lạ. Tốt nghiệp, được giữ lại trường làm giảng viên nhưng thầy xin về làng dạy học. Thầy muốn tiếp nối hành trình của người thầy giáo năm xưa đã cưu mang để mình được tiếp tục đi học.
Tôi nhớ, ngày ấy cả làng xì xầm bảo thầy Thành bị hâm. Vừa nhận chế độ thương binh, vừa nhận lương giáo viên, lại cao to, sáng sủa, vậy mà lúc nào cũng bộ quần áo sờn vai, bạc phếch, lóc cóc trên chiếc xe đạp cổ lỗ sĩ. Người ta bảo thầy keo kiệt bủn xỉn nên chẳng cô nào dám trao thân gửi phận, để thầy chịu cảnh một bóng một hình thui thủi ra vào. Nghe miệng đời gièm pha, thầy chỉ cười buồn, chẳng một lời biện bạch, cứ lặng lẽ bám bục giảng, cặm cụi với vườn rau, ao cá.
Lũ học trò lấm lem chúng tôi ngày ấy lúc đầu cũng sợ thầy lắm, vì trên lớp thầy nghiêm khắc rèn giũa như trong quân ngũ. Nhưng rồi một lần chăn trâu, hò hét, nghịch ngợm, cả đám đánh liều chui qua hàng rào dâm bụt vào nhà thầy hái trộm bưởi. Thầy phát hiện, không quát mắng mà nhẹ nhàng nhắc chúng tôi trèo xuống. Thầy gọt bưởi cho chúng tôi ăn, dặn dò chúng tôi thích ăn bưởi, ăn ổi thì cứ vào xin thầy. Đừng lén lút vừa trèo cây, vừa canh chừng, sợ hãi, ngã gãy tay gãy chân thì mình khổ, bố mẹ khổ mà thầy cũng áy náy. Từ hôm ấy, hiên nhà thầy bao giờ cũng để sẵn một ấm nước vối và mấy cái bát sành. Rồi mùa nào thức nấy, thầy hái ổi, hái na, hái bưởi để phần cho chúng tôi.
Sân nhà thầy thành địa điểm quen thuộc của lũ học trò nghịch ngợm. Tối tối, cơm nước xong, chúng tôi ôm sách vở sang để thầy kèm cặp. Thầy kiên nhẫn giảng từng phép toán, từng con chữ. Học xong, chúng tôi đòi thầy kể chuyện chiến trường. Trong trí tưởng tượng của chúng tôi, thầy là một dũng sĩ, một anh hùng. Chúng tôi vô tư đòi nghe chuyện súng gươm, đòi thấy những chiến công vang dội, nào đâu biết rằng những câu hỏi ấy đã chạm vào ký ức đau đớn của một người lính bước ra từ khói lửa chiến tranh. Có lần, tôi hỏi bà sao lần nào kể chuyện, giọng thầy cũng nghèn nghẹn, nhưng tôi không thấy thầy rơi nước mắt. Bà tôi bảo, nghẹn mà không khóc được là buồn đau buốt ruột, buốt gan. Bà nói tôi nửa hiểu, nửa không nên kể cho thằng Tiến nghe. Nó dặn chúng tôi không hỏi thầy chuyện chiến tranh nữa. Thay vào đó, chúng tôi bí mật phân công nhau kể cho thầy nghe đủ chuyện trên trời, dưới đất, nhiều khi bí quá, lôi cả chuyện con gà nhà em mấy nay tự nhiên không đẻ nữa, chắc nó đang đòi ấp. Thầy xoa đầu chúng tôi cười mà mắt ngân ngấn nước.
Tôi vô tình biết được bí mật của thầy vào một đêm trăng sáng. Tối hôm ấy, tôi ôm cuốn vở toán định nhờ thầy giảng lại bài phương trình dở dang. Tôi sợ thằng Tiến biết được sẽ chế nhạo mình học dốt nên lén chui qua bờ rào dâm bụt. Thầy ngồi giữa sân, rót rượu, cứ một chén rải xuống đất, lại một chén cạn một mình. Tiếng thầy văng vẳng, rì rầm nửa như khấn vái, nửa như chuyện trò với người âm: “Bọn mày dưới đó có lạnh không? Trăng đêm nay sáng, y hệt đêm ở rừng năm nào... Cố đợi tao nhé. Rồi tao sẽ vào tận nơi đón bọn mày về... Tao không quên lời thề, nhưng tao không đành lòng nhìn học trò phải bỏ học. Bọn mày cố đợi tao thêm ít thời gian nữa...”.
Thầy bưng mặt. Tôi thấy đôi vai thầy run rẩy. Gió từ cánh đồng bỗng rít lên ràn rạt, quất vào rặng tre, khua động tàu cau gãy gập nghe như tiếng than vãn nỉ non trôi dạt giữa đôi bờ hư thực. Mây đen che khuất mặt trăng. Tôi bàng hoàng thấy quanh thầy dường như có những bóng người mặc quân phục ngồi kề bên nhau, đưa tay an ủi thầy... Câu chuyện ấy tôi không dám hé răng kể với ai, kể cả bà nội.
Mãi đến khi thầy về hưu, ngược xuôi trên hành trình tìm hài cốt đồng đội, cái tiếng “keo kiệt” mà miệng đời dội lên thân phận thầy mới được gột sạch. Những đồng tiền thầy chắt chiu dành dụm vừa để mua sách bút cho học trò, vừa làm lộ phí để người lính năm nào thực hiện lời thề đưa đồng đội trở về với quê hương. Thầy cũng khát khao có một mái ấm nhỏ nhưng mảnh đạn găm vào thân thể không chỉ hành hạ thầy bằng những cơn đau xé tủy mà còn tàn nhẫn tước đoạt thiên chức làm cha.
***
Thầy giữ tôi ở lại, ăn với thầy bữa cơm trưa có món canh nấu từ rau vườn nhà, cá dưới áo thầy thả, ngả lưng trên chiếc chõng tre nghe gió đồng êm ả. Thầy cho tôi xem cuốn sổ đang ghi chép dở. Chi chít những tọa độ, phiên hiệu đơn vị. Cũng may trời thương nên thầy còn minh mẫn, còn ghi nhớ nơi đóng quân, chiến đấu. Thầy ghi lại gửi các cơ quan chức năng, biết đâu giúp được điều gì đó. Thầy cũng tiết kiệm được một ít từ tiền lương, tiền bán cá, đưa cho tôi và bảo: "Thầy gửi anh, nhờ anh lúc nào ngân hàng làm việc thì đóng góp vào quỹ phục vụ công tác tri ân. Thầy già rồi, chỉ có thể gửi gắm tâm thành, cậy nhờ mồ hôi và bước chân của thế hệ trẻ... Còn căn nhà này, thầy cũng đã tính đến lúc trăm tuổi, nhờ làm thủ tục. Tiền bán được một phần gửi quỹ xây trường cho trẻ em vùng sâu, vùng xa, một phần gửi quỹ đền ơn đáp nghĩa. Anh học rộng, hiểu nhiều, lúc nào rảnh rỗi hỏi giúp thầy thủ tục...".
Tôi lặng người, chẳng biết nói gì. Thầy rót thêm cho tôi chén nước vối. Nhấp một ngụm, vị chát mỏng nơi đầu lưỡi nhanh chóng tan đi, để lại vị ngọt hậu đượm đà, vương vấn. Tôi ngả lưng trên chõng, nhẹ nhàng chìm vào giấc ngủ trong làn gió hiu hiu thổi bên hiên nhà. Líu ríu tiếng trẻ con gọi thầy xin quả, thoang thoảng hương hoa cau rụng trắng khoảng sân nhỏ.
Tôi mơ thấy mình bị ném vào một nơi xa lạ. Hoang mang, sợ hãi, tôi cứ chạy mãi giữa những con đường hun hút, không biết đâu là lối về. Một tiếng chuông chùa ngân lên trong chiều vắng. Căn nhà nhỏ của thầy Thành dưới hàng cau cũ hiện ra như cổ tích. Tôi đứng ngoài cổng, nghe mùi hoa cau thoảng trong gió, lòng bỗng dịu xuống như người đi xa cuối cùng cũng tìm được chỗ neo mình.
Tôi choàng tỉnh. Một ý nghĩ bất chợt đến, day dứt. Mai này thầy trăm tuổi, ai là người tiếp tục neo giữ hồn làng cho những đứa con xa quê như tôi có chốn nhớ thương. Và tôi thấy gương mặt mình hiện lên trong tâm trí...
| Một học trò bận bịu, biết tin thầy ốm nên về thăm. Đó là việc thể hiện đạo nghĩa thầy trò. Và, dòng hồi ức của anh tạc chân dung người thầy nhiều bất hạnh, hy sinh và giàu nghị lực. Sự gửi gắm của thầy với người học trò, cũng là lời nhắn gửi của thế hệ cha ông với thế hệ hôm nay. Rằng người trẻ không được quên quá khứ, nếp sống giản dị thanh bình làng quê. Hơn thế, người trẻ phải biết tri ân cha ông và gìn giữ, tôn bồi truyền thống quý báu của dân tộc. (Nhà văn NGUYỄN VĂN HỌC) |
Truyện ngắn của ĐÀO THU HÀ