Đêm nay là Lễ cúng khánh thành nhà rông. Giữa khoảng sân đất nện phẳng lì, ngọn lửa đỏ rừng rực thắp sáng những gương mặt sạm màu nắng gió của các nghệ nhân Jrai. Họ đứng thành một vòng tròn, chân trần bám chặt vào đất ấm, cơ bắp cuồn cuộn nổi bật dưới ánh lửa bập bùng.
Khi nghệ nhân già nâng chiếc dùi đầu bọc vải đỏ, đánh nhát đầu tiên vào mặt chiếc chiêng mẹ (chiêng Mơng), một âm thanh trầm đục, trầm hùng vang lên chấn động không gian. Tiếng chiêng ngân dài, dội xuống mặt đất rồi tỏa vào màn sương ẩm. Ngay sau đó, dàn chiêng mười mấy chiếc nối tiếp nhau nhập cuộc. Tiết tấu dồn dập hơn, từng lớp âm thanh bện chặt vào nhau tạo nên một luồng từ trường vô hình như cuốn phăng mọi ồn ào của thế giới hiện đại ngoài kia.
Người Tây Nguyên coi cồng chiêng là vật thiêng, là cầu nối trực tiếp giữa cõi người hữu hạn với cõi Yàng vô biên. Tuy mỗi chiếc chiêng chỉ cất lên một nốt nhạc cô đơn, khô khốc, nhưng khi được đặt vào tay những người con của buôn làng, dưới sự điều phối của nhịp chân trần và hơi thở cộng đồng, chúng hòa quyện thành một bản giao hưởng đặc sắc không đâu có được.
Tiếng chiêng của đồng bào Tây Nguyên được thực hiện trong nhiều nghi lễ và là ngôn ngữ của tâm linh. Khi đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời, nhịp chiêng vang lên báo tin mừng cho tổ tiên, thần linh. Khi đôi lứa kết duyên, tiếng chiêng dập dồn chúc phúc. Khi người già trút hơi thở cuối cùng, âm thanh ấy lại sầu thảm, trầm lắng tiễn đưa linh hồn.
    |
 |
Cồng chiêng Tây Nguyên đánh thức đại ngàn. Ảnh: ĐÌNH KHOA
|
Đứng giữa sân buôn, lắng tai nghe tiếng cồng chiêng đối ứng, tôi hiểu vì sao đồng bào trân quý chiêng hơn cả đàn trâu béo, ché rượu cần ngon. Chiêng mang linh hồn của bao đời ông bà tích tụ. Mỗi âm thanh của chiêng rung lên, tôi cảm tưởng đó là nhịp đập của trái tim đại ngàn qua bao thăng trầm dâu bể.
Có đồng hành cùng văn hóa cơ sở mới thấu hết cái tài tình, điêu luyện của những người nghệ sĩ nông dân này. Đồng bào Tây Nguyên không hề biết đến ký âm phương Tây, không có trường lớp nhạc viện, cũng chẳng có những bản tổng phổ chi tiết viết trên giấy kẻ khuông năm dòng. Vậy mà họ lại tạo nên một cấu trúc âm nhạc và hòa âm tự nhiên mê đắm.
Nhìn dàn chiêng di chuyển ngược chiều kim đồng hồ quanh cây nêu, tôi thấy sự đặc biệt của cấu trúc dàn nhạc. Mỗi người chỉ phụ trách một chiếc chiêng hoặc cồng. Người ôm chiêng núm giữ bè trầm, làm nền tảng vững chãi cho toàn bộ dàn nhạc. Người cầm chiếc chiêng bằng nhỏ hơn thì giữ bè cao, dệt nên những đường nét giai điệu lả lướt, bay bổng.
Cái hay của nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng nằm ở sự kết hợp giữa yếu tố "chủ điệu" và "đa điệu". Khi các nghệ nhân gõ dùi vào mặt chiêng, ngón tay trái của họ đồng thời chặn nhẹ vào vành hoặc lòng chiêng để hãm âm, tạo độ ngắt, độ nảy hoặc để âm thanh ngân rung tự do. Những chuỗi âm thanh phát ra đối ứng, đan xen, như đuổi bắt nhau không dứt. Một tiếng gõ dứt khoát của chiêng con lập tức có tiếng vọng hồi đáp từ chiêng mẹ. Nó giống như tiếng suối reo hòa cùng tiếng thác đổ, tiếng gió ngàn xao xác qua vòm lá quyện cùng tiếng sấm trước cơn mưa đầu mùa.
Cái tài của người chỉnh chiêng cho thấy có một đỉnh cao nghệ thuật khác. Chỉ với một chiếc búa nhỏ bằng sắt và cái đe tự chế, người nghệ nhân có thể lắng nghe độ rung của hợp kim, gõ từng nhịp chuẩn xác vào mép hay lòng chiêng để uốn nắn cao độ. Họ hiệu chỉnh âm thanh bằng chính đôi tai mẫn cảm được trui rèn từ tiếng suối, tiếng chim và tiếng gió của núi rừng. Vì thế mà âm thanh cồng chiêng luôn tự nhiên, như âm thanh của trời đất, không một dàn nhạc điện tử nào có thể mô phỏng nguyên vẹn cái hồn cốt sống động ấy.
Nhiều năm làm nghề, không ít lần tôi chứng kiến cồng chiêng được đưa lên các sân khấu rực rỡ ánh đèn led, trên những bục gỗ bóng loáng ở các đợt liên hoan. Nhưng thú thực tôi vẫn không cảm nhận được bước chân núi rừng trầm hùng với bao huyền tích. Khi ấy, tôi liên tưởng, tiếng cồng chiêng tựa như cánh chim đại bàng bị nhốt trong lồng kính, mất đi cái khí chất phóng khoáng, kiêu bạc vốn có giữa tự nhiên.
Bởi lẽ, cồng chiêng sinh ra không dành cho chỗ đó. Nó phải gắn với không gian văn hóa của đồng bào. Nó phải vang lên bên mái nhà rông sừng sững vút lên trời xanh như lưỡi rìu dựng đứng. Tiếng chiêng phải hòa cùng mùi khói của đống lửa thiêng giữa sân buôn, mùi đất ẩm nồng sau cơn mưa rừng và hương rượu cần men lá nồng nàn đang ủ trong ché đá. Tiếng chiêng phải đồng vọng với điệu múa xoang nhịp nhàng, uyển chuyển của những cô gái sơn cước trong bộ váy thổ cẩm dệt bằng chỉ thô. Tiếng chiêng phải gắn liền với những câu khan dài miên man được già làng kể thâu đêm suốt sáng bên bếp lửa, và những pho tượng nhà mồ trầm mặc, rêu phong dưới bóng cây rừng.
Trong không gian ấy, không có ranh giới giữa người biểu diễn và khán giả. Khi tiếng cồng chiêng cất lên, cả buôn làng trở thành một khối thống nhất. Từ em bé còn ẵm ngửa đang nằm trên lưng mẹ đến các cụ già râu tóc bạc phơ đều hòa vào dòng chảy âm thanh. Đôi chân trần của mọi người cùng giẫm theo nhịp chiêng, ngực cùng phập phồng một nhịp thở, tâm trí cùng hướng về một lời cầu nguyện cho mưa thuận gió hòa, cho mùa màng bội thu, buôn làng no ấm. Tiếng chiêng kéo con người lại gần nhau, xóa nhòa những toan tính đời thường, gắn kết các thành viên trong cộng đồng thành một khối bền chặt.
Tôi chợt nhớ đến lời tâm sự đầy trăn trở của một già làng nơi biên giới cách đây chưa lâu. Già bảo, người già trong buôn cứ lần lượt về với Yàng, còn lũ trẻ bây giờ thích nghe nhạc trên điện thoại hơn nghe tiếng chiêng. Đã từng có những buôn làng đem bán mất những bộ chiêng quý đổi lấy xe máy, lấy tiền lợp mái tôn. Chiêng mất đi, buôn làng như mất đi cái hồn, mất đi bóng mát chở che của cây kơ-nia đại ngàn...
Lời tâm sự ấy khiến những người lính làm công tác văn hóa như chúng tôi không khỏi xót xa, đau đáu. Cơn lốc của đô thị hóa, lối sống công nghiệp và sự du nhập của văn hóa giải trí hiện đại đang âm thầm khoét sâu vào đời sống buôn làng. Đã có thời kỳ, "nạn chảy máu cồng chiêng" khiến hàng nghìn bộ chiêng cổ rời khỏi nóc nhà sàn, lưu lạc vào các quán cà phê cổ vật, các phòng khách thành phố như một món đồ trang trí đơn thuần. Khi không gian rừng bị thu hẹp, môi trường sinh hoạt truyền thống biến đổi, cồng chiêng đứng trước nguy cơ trở thành "di sản chết" vì nằm trong tủ kính bảo tàng.
Thế nhưng, giữa bóng tối ấy, niềm hy vọng lại bừng sáng ngay dưới mái nhà rông văn hóa mà cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn 15 cùng chính quyền địa phương chung tay xây dựng nơi dải đất biên cương này.
Cách ngọn lửa không xa, tôi thấy một nhóm thanh thiếu niên buôn làng đang quây quần bên một nghệ nhân cao tuổi khác. Những bàn tay nhỏ nhắn cẩn trọng nâng từng chiếc chiêng nhỏ, gõ từng nhịp ngập ngừng nhưng say mê. Đây chính là quả ngọt từ những lớp truyền dạy cồng chiêng do ngành văn hóa cơ sở kiên trì phối hợp cùng các già làng, nghệ nhân mở ra suốt những năm qua.
Khi các em đánh xong trọn vẹn bản chiêng, dù nét dùi còn non nớt, nhưng tôi thấy những đôi mắt của người già sáng bừng như lửa ấm. Cái gốc của văn hóa cồng chiêng đã đánh thức niềm tự hào và mạch nguồn tiếp nối trong chính huyết quản của thế hệ trẻ buôn làng. Tiếng cồng, tiếng chiêng phải sống cùng đời sống thật của người Tây Nguyên. Nó ở nương rẫy, dưới mái nhà sàn và gắn với những nghi lễ thiêng liêng tạ ơn trời đất!
MẠNH HÙNG