Bác từng nhận mình là thi nhân: "Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt/ Nguyệt tòng song khích khán thi gia" ("Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ/ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ"-"Vọng nguyệt").
Tố Hữu từng viết: "Bác sống như trời đất của ta". Đúng vậy! Cỏ cây, sông núi, trăng, hoa... luôn bên Bác như những người bạn, như một phần con người không thể tách rời Bác. Và con người ấy hòa hợp, lộng lẫy cùng cái đẹp của thiên nhiên, làm chủ thiên nhiên: "Khán thư sơn điểu thê song hãn/ Phê trát xuân hoa chiếu nghiễn trì" ("Xem sách chim rừng vào cửa đậu/ Phê văn hoa núi ghé nghiên soi"-"Tặng Bùi Công").
    |
 |
| Tiết mục trong Hội diễn nghệ thuật quần chúng "Tiếng hát Làng Sen" toàn quốc năm 2025. Ảnh: VĂN TÝ |
Phong cách thơ Hồ Chí Minh rất độc đáo. Đó là sự kết hợp nhuần nhụy giữa tính cổ điển và hiện đại, giữa sự bình dị và uyên bác, giữa lãng mạn và hiện thực, giữa cụ thể và trừu tượng.
Thơ Bác dễ nhớ, dễ thuộc, trong thơ có nhạc, có họa, có tiếng khóc, tiếng cười nhưng trên tất cả là nỗi lo nước, thương đời, là vầng sáng bất diệt của những vẻ đẹp con người và sức mạnh tinh thần. Thơ Bác nằm giữa trung tâm dòng chảy của thơ ca yêu nước Việt Nam. Thơ Bác có nhiều lớp nghĩa, càng ngẫm càng hay, nhưng chỉ bằng cảm xúc cũng có thể tiếp nhận được, cũng thấy tâm hồn, tình cảm mình lớn dậy. Bài thơ "Cảnh khuya" viết năm 1947 ở Chiến khu Việt Bắc thể hiện đầy đủ phong cách đó của Bác:
"Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà".
Một người bình thường, thậm chí không biết chữ, khi nghe bài thơ này chắc cũng sẽ cảm nhận được non sông mình sao mà đẹp, mà đáng yêu thế. Với người học rộng, khi đọc "Tiếng suối trong như tiếng hát xa" có thể liên tưởng tới khúc "Cao sơn lưu thủy" của Bá Nha, tới "Côn Sơn ca" của Nguyễn Trãi... Ví tiếng suối với tiếng đàn đã hay, nhưng ví tiếng suối “trong như tiếng hát” mà lại “tiếng hát xa” còn hay hơn nữa. Trong như lọc, trong suốt, trong veo... là điều ta thường nói. Từ thơ Bác, ta lại có thêm một so sánh “trong như tiếng hát” làm cho tiếng Việt hay hơn, sang hơn, giàu biểu cảm hơn.
Chỉ một câu 7 chữ của Bác thôi: "Tiếng suối trong như tiếng hát xa" đã có sự dài rộng của không gian, trong trẻo của trời đất, cao sáng của tâm hồn. Ở đây, con người với tự nhiên đã hòa làm một tự bao giờ. Với "Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa" thì hẳn “bóng” đây chính là bóng Bác. Hai câu sau "Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ/ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà" là một bước chuyển khá đột ngột. Đang nói về thiên nhiên mỹ lệ lại nói về sự âu lo của con người. Ấy vậy mà lại tuyệt đối thống nhất. Đó chính là con người Bác, thơ Bác. Cảm quan thiên nhiên, yêu cái đẹp của thiên nhiên thường trực trong thơ Bác. Lòng yêu nước, lo cứu nước cũng thường trực và thiết tha trong từng giây phút, trong suốt cả cuộc đời của Bác.
    |
 |
Chủ tịch Hồ Chí Minh (ảnh chụp ngày 15-5-1957). Ảnh tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh
|
Với tôi, câu thơ ấy có thể hiểu là “cảnh khuya như đang vẽ nên chân dung một người chưa ngủ vì đang lo việc nước”. Toàn bộ cảnh khuya ấy là một cái đẹp, cái đẹp của tự nhiên. Và cái đẹp ấy để làm khung, để tôn lên, đóng vai trò chủ ngữ để “vẽ” một cái đẹp khác: Chân dung một người không ngủ vì lo nỗi nước nhà. Đến đây, cái đẹp được nhân đôi, thống nhất lại tạo nên sự trọn vẹn và tính thẩm mỹ tuyệt đỉnh của bài thơ. Và nếu phân tách nữa, thì hai câu trên là chất thơ, hai câu dưới là chất thép.
Thơ Bác, có nhiều câu thơ uyên bác như thơ cổ điển Việt Nam và cũng có nhiều câu mới mẻ như thơ cách tân. Nhà thơ lớn là người có tầm ảnh hưởng quốc tế rộng lớn và được quốc tế thừa nhận. Nhà thơ lớn là người đề xướng quan điểm nghệ thuật mới mẻ. Bác đã tạo nên một trường phái thơ yêu nước có ảnh hưởng sâu sắc đến văn học sau này. Chẳng hạn như câu: "Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong" ("Cảm tưởng đọc "Thiên gia thi").
Trên cương vị lãnh tụ và qua thực tiễn sáng tác, Bác đã thể hiện vai trò hàng đầu của văn nghệ là phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân vì mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ. Bác yêu cầu và dày công xây dựng đội ngũ nhà báo-chiến sĩ, nhà văn-chiến sĩ, những binh chủng đặc biệt đã có những đóng góp hết sức vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thu non sông về một mối. Kiểu nhà văn-chiến sĩ vẫn thường có trên thế giới nhưng có hẳn một đội ngũ trùng điệp, được tiếp nối liên tục như ở Việt Nam là điều hiếm có.
Người nghệ sĩ lớn là người có tình yêu lớn. Bác Hồ là người yêu nước thiết tha, người đặt tên mình là Nguyễn Ái Quốc. Cả đời Người hy sinh cho nhân dân, cho Tổ quốc. Người có một tình yêu bao la đối với con người. Ngay trong "Nhật ký trong tù" cũng thể hiện điều đó.
Người không chỉ xót thương cháu bé 3 tuổi phải theo mẹ đến ở nhà pha mà thương cả người tù cờ bạc bị chết cóng, gọi các người tù là “nạn hữu”("Nạn hữu xuy địch", "Nạn hữu đích chỉ bị"), là “nhân nhân” một cách bình đẳng ("Nhị điểm khai lung hoán không khí/ Nhân nhân ngưỡng khán tự do thiên"-"Ngọ hậu"). Người không chỉ biết ơn Dương Đào, người dẫn đường mà còn biết ơn cả những tướng tá, quản ngục trong chính quyền Tưởng Giới Thạch đã giúp mình.
Cuối cùng, nhà thơ lớn là người có những bài thơ để đời. Bác Hồ có những bài thơ sống mãi trong lòng dân, trong lịch sử văn học Việt Nam. Cùng với "Nguyên tiêu" ("Rằm tháng Giêng") được chọn làm bài thơ khai mạc cho Ngày Thơ Việt Nam từ năm 2003 tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám (Hà Nội) đến nay, các bài thơ chúc Tết và có tính chất cổ điển của Bác được dân gian truyền tụng từ đời này đến đời khác.
Không chỉ những bài thơ cổ điển, có tính chất bác học, mà những bài vè, bài thơ làm cốt để tuyên truyền của Bác cũng có sức sống lâu bền. Đó là "Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam" ("Lịch sử nước ta"); "Quan sơn muôn dặm một nhà/ Vì trong bốn biển đều là anh em" (trích trong diễn văn tiễn đoàn Nhà nước Liên Xô thăm Việt Nam do Nguyên soái, Chủ tịch Xô viết Tối cao Voroshilov dẫn đầu, ngày 24-5-1957); "Thương nhau mấy núi cũng trèo/ Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua/ Việt-Lào, hai nước chúng ta/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long" (trích phát biểu của Bác trong buổi tiễn Nhà vua Sri Savan Vatthana cùng các vị khách quý Lào kết thúc chuyến thăm Việt Nam tại sân bay Gia Lâm, ngày 13-3-1963).
Bài thơ “Ca binh lính” đăng trên Báo Việt Nam độc lập số 110, là một bài vè binh vận trước Cách mạng Tháng Tám, có trong sách giáo khoa tuổi thơ của tôi, có những câu cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ mãi: "Hai tay cầm khẩu súng dài/ Nhắm đi nhắm lại, bắn ai thế này?...; Anh em binh lính ta ơi/ Chúng ta cùng giống, cùng nòi Việt Nam/ Việc chi lợi nước thì làm/ Cứu dân cứu quốc há cam kém người!". Sau này, dù khi là bộ đội hay công tác trong cơ quan Nhà nước, làm báo, có được vũ khí, công cụ trong tay do Nhà nước giao, mỗi khi quyết định điều gì, viết điều gì, tôi thường nhớ tới câu thơ của Bác để tự răn mình khỏi hành động sai trái.
Nghệ thuật và tuyên truyền, tuyên truyền và nghệ thuật, hai lĩnh vực khác nhau nhưng đều gặp nhau ở một chỗ khi nó đạt tới đỉnh cao. Khi tuyên truyền cho điều tốt đẹp đạt tới đỉnh cao thì nó gần gũi với nghệ thuật và nghệ thuật chân chính nào cũng tuyên truyền, cổ vũ cho cái chân, thiện, mỹ. Chân, thiện, mỹ nhất là sự nghiệp đấu tranh giành độc lập và xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Cuộc đời Bác, thơ Bác phục vụ cho sự nghiệp ấy chính là di sản văn hóa vô giá mà Người để lại cho đời sau.
Nhà thơ NGUYỄN SĨ ĐẠI