Ở Việt Nam, các triều đại, thời đại được nhớ đến bởi những chiến công hiển hách bảo vệ giang sơn và giống nòi. Đó là những trang sử được lưu trữ bằng trí nhớ, niềm tự hào dân tộc, mà văn hóa thời Hùng Vương là một ví dụ tiêu biểu. Lịch sử được lưu giữ bằng các giá trị của thời đại, bằng danh tác của các văn nhân, chiến công của các anh hùng nghĩa sĩ vì dân, vì nước.

Nhà thơ Hoàng Hữu từng viết: “Trống đồng sau lớp đất vùi/ Vẫn ban mai một mặt trời đang lên.../ Sóng tung lấp lóa chiến thuyền/ Sông sâu từng đã nhấn chìm giặc tan”. Bốn câu thơ ấy không chỉ nói lên tinh thần, khí phách của một làng quê mà đã trở thành biểu tượng sức mạnh Việt Nam. Bắt đầu từ hạt nhân đầu tiên là tín ngưỡng thờ cúng trong mỗi gia đình đã nói lên tất cả. Thờ cúng tổ tiên dần trở thành tập tục có chỗ đứng vững chắc trong đời sống tinh thần của người Việt.

Nhân dân ta luôn có sự sáng suốt và minh triết trong việc thờ cúng, tôn sùng các biểu tượng văn hóa, thần linh và tôn trọng sự đoàn kết, phối hợp trong lao động sản xuất cũng như ứng xử với thiên nhiên, đặc biệt là trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Bởi thế, những triều đại rực rỡ đều được tụng ca trong ca dao, dân ca, tích trò, trò chơi dân gian. Các vị anh hùng có công với nước đều hóa thần hiển thánh, được thờ phụng bằng tinh thần tự nguyện như một niềm tự hào. Có vị là thi nhân như Vua Lê Thánh Tông, có vị là Phật hoàng như Trần Nhân Tông, có vị xuất thân từ thủ lĩnh nghĩa quân “áo vải cờ đào” dấy binh giải phóng đất nước như Lê Lợi, Nguyễn Huệ...

leftcenterrightdel
Đoàn nghi lễ dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng. Ảnh: KHUẤT THỦY 

Truy nguyên về quá khứ, niềm tin của người Việt xuất phát từ sự biết ơn, noi gương để phát huy truyền thống văn hóa trong thời đại mới. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, văn hóa thời Hùng Vương còn nguyên giá trị khi chứa đựng yếu tố dân chủ, nhân văn. Mối quan hệ giữa vua, quan với nhân dân là sự bình đẳng, đoàn kết khi họ cùng chung sức gánh vác trách nhiệm bảo vệ đất nước.

Ngày 19-9-1954, trong buổi gặp mặt, nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong trước khi về tiếp quản Thủ đô Hà Nội tại Đền Giếng (khu di tích Đền Hùng), Bác Hồ từng căn dặn: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Đó là mạch nguồn tư tưởng xuyên suốt từ các Vua Hùng cho đến thời đại Hồ Chí Minh, tư tưởng nhân dân, biết lắng nghe và thấu tỏ. Đất nước được các vị vua sáng lập, nhưng đất nước cũng là của muôn dân. Hai chữ “cùng nhau” mà Bác Hồ đã nói chính là tinh thần dân tộc đầy tự nguyện nhưng cũng rất đỗi mộc mạc, gần gũi như trong những câu ca dao: “Anh em như tre cùng khóm”, hay: “Rủ nhau đi cấy đi cày/ Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu”.

Dấu ấn văn hóa Hùng Vương còn lưu truyền đến hôm nay là sự xuất hiện của “hội đồng bô lão”. Ngày nay, với truyền thống “kính lão đắc thọ”, trân trọng công lao, đóng góp và kinh nghiệm sống của người già, đến làng Hùng Lô-ngôi làng cổ bên sông Lô-ta còn thấy nhắc đến các “lão hạng”, gồm các cụ già đã được xếp vào “quan lão”, bữa tiệc mừng thọ các cụ được gọi một cách trang trọng là “yến lão”... cho thấy tính dân chủ như một giá trị truyền thống lâu đời.

Có người cho rằng chính tinh thần nhân văn đó đã tạo ra mô hình công xã thời Hùng Vương, bỏ được giai đoạn chiếm hữu nô lệ đầy nghiệt ngã, một hiện tượng hiếm thấy trên thế giới. Giữa người với người, giữa cá nhân và cộng đồng có mối quan hệ bền vững, dựa trên tinh thần tự nguyện, che chở, cùng ứng phó với những nguy cơ, hiểm họa. Có lẽ từ ý thức manh nha đó, theo năm tháng đã tạo ra chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng. Từ làng đến nước tựa như từ suối đổ vào sông, là sự gắn kết chặt chẽ, logic nhưng đầy uyển chuyển. Người dân vì làng, vì nước, nhưng làng nước cũng “cấp” cho họ một danh phận đầy tự hào là danh xưng người làng này, trấn kia, kiểu như: “Em là con gái làng Keo/ Em ra thách cưới, thách cheo với chàng”, hay: “Làng tôi có lũy tre xanh/ Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng”...

Trong suốt chiều dài lịch sử, các thế hệ người Việt sẵn sàng hy sinh xương máu để bảo vệ thành quả truyền thống đó. Tình làng nghĩa xóm từ đó mà gắn kết, khi đất nước lâm nguy, các làng cố kết lại thành các đội dân quân, du kích nổi tiếng. Điển hình như trong kháng chiến chống thực dân Pháp là những: Cảnh Dương, Cự Nẫm (Quảng Bình); Nguyên Xá (Thái Bình), Vật Lại (Ba Vì, Hà Nội)... Họ chiến đấu để bảo vệ truyền thống văn hóa, cội nguồn tiên tổ chứ đâu chỉ vì lợi ích cá nhân. Truyền thống đó là niềm tin sâu sắc gắn kết từ quá khứ-hiện tại-tương lai.

Niềm tin của người Việt Nam được thể hiện qua tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và đặc biệt là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương. Đã là người Việt, ai cũng nhớ câu tục ngữ “Cây có cội, nước có nguồn”. Từ kết cấu xã hội của loài người, khi ứng chiếu với kết cấu của thiên nhiên, ông cha ta đã tìm ra sự tương đồng sâu sắc để trả lời cho câu hỏi: Chúng ta thờ ai, tin ai? Thờ phụng nguồn cội, xuyên suốt mạch nguồn dân tộc cho ta cơ hội được làm người dân một nước tự do, độc lập, có hình dáng, trí tuệ... mấy nghìn năm lịch sử. Những người Việt Nam yêu nước dù xa quê, đang sinh sống khắp nơi trên thế giới vẫn tìm về xây dựng quê hương, đứng về phía đất nước và nhân dân chứ không “vong quốc”, “vong bản”.

leftcenterrightdel

Hát xoan Phú Thọ gắn với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Trong ảnh: Biểu diễn hát xoan tại gian trưng bày của tỉnh Phú Thọ trong khuôn khổ triển lãm 80 năm thành tựu đất nước, năm 2025. Ảnh: THU HÒA 

Thêm một dấu ấn của văn hóa Hùng Vương trên miền Đất Tổ thể hiện ở sự tồn tại khu rừng cấm trong nhiều làng cho đến ngày nay, ví dụ như khu rừng cấm tại các xã: Hiền Quan; Hy Cương...

Thay vì những thành quách, đền đài nguy nga tổn hao sức dân, ký ức về các vị vua gắn với núi rừng, từ đó, tín ngưỡng thờ cúng Vua Hùng gắn với thiên nhiên hoang dã hòa nhịp cùng đất trời tạo nên sự dung hòa bền vững. Vua cũng là thần, những vị thần mãi mãi chở che cho muôn dân chứ không phải vì sự kinh sợ mà nhân dân phải cung phụng. Lễ hội Đền Hùng được bắt nguồn từ lễ hội của các làng Vi, làng Trẹo, làng Cổ Tích (Phú Thọ)... cho thấy các Vua Hùng là biểu tượng vừa thiêng liêng, vừa gần gũi, sống trong lòng dân bền lâu chứ không phải qua ngòi bút các vị sử quan áp đặt.

Một điểm đáng chú ý là trong dịp Giỗ Tổ, ngoài các hoạt động truyền thống như: Gói, nấu bánh chưng, giã bánh giầy, lễ vật còn có nét đặc biệt như “3 đon mạ xanh” để tưởng nhớ công lao lớn nhất khi Vua Hùng dạy dân cấy lúa. Đức vua không còn xa cách với vị trí thiên tử nhận mệnh cai quản đất nước, nhân dân, mà vua là tổ tiên truyền dạy. Dân và vua cùng chung huyết thống, thờ cúng vua như thờ tự cha ông và tin tưởng vào sự trường tồn của đất nước bởi có một truyền thống đầy tự hào.

Văn hóa Hùng Vương đã lan tỏa khắp mọi miền đất nước. Có thể thấy, từ bài vị các Vua Hùng thờ ở miếu Lịch đại đế vương tại kinh thành Huế đến các miền đất phương Nam xa xôi như: Bình Phước, Đồng Nai, Bến Tre, Kiên Giang... Dù có thể lên núi Nghĩa Lĩnh dâng hương hay từ xa ngưỡng vọng thì tín ngưỡng thờ cúng Vua Hùng vẫn là một giá trị để chúng ta luôn tự hào.

Với những người bạn quốc tế, họ thật sự bất ngờ bởi chưa ở đâu có một thời đại các vị vua sống mãi trong lòng dân mà không bị giới hạn bởi sự tồn tại của ngai vàng. Văn hóa Hùng Vương chính là niềm tự hào dân tộc như thế...

Nhà văn BÙI VIỆT PHƯƠNG