1. Phải chống lại kẻ xâm lược giàu có, hung hãn, nham hiểm nhất thế giới là đế quốc Mỹ, vâng theo lời Bác: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, cả dân tộc Việt Nam đã đứng dậy, kết thành một khối, tiến hành cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại. Ở miền Nam, hàng vạn người mẹ, người chị không quản gian khổ, hiểm nguy, thậm chí sẵn sàng hy sinh tính mạng để nuôi giấu bộ đội; còn làm giao liên, y tá, đứng trong “đội quân tóc dài” đi đấu tranh... Ở miền Bắc, tất cả hăng hái thi đua lao động sản xuất, chi viện cho chiến trường với tinh thần: “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”; “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”; “Nhường nhà để hàng, nhường làng để xe”; “Xe chưa qua, nhà không tiếc”...

“Trên đường ta đi đánh giặc”, nhà thơ Chính Hữu bắt gặp những ngọn đèn do nhân dân thắp để bộ đội hành quân. Trong “những ngọn đèn không bao nhắm mắt” ấy, thao thức ánh sáng tình quân dân. Nhà thơ ghi lại cảnh miền Bắc: “Xóm dưới làng trên, con trai con gái/ Xôi nắm cơm đùm, ríu rít theo nhau/... Bộ đội dân quân, trùng trùng điệp điệp/ Chào nhau không kịp nhớ mặt” ("Đường ra mặt trận"). Trong đội ngũ trùng điệp ấy, không phân biệt đâu là quân, đâu là dân. Tất cả hòa vào nhau trong đội ngũ cứu nước, giành độc lập, tự do. Người Việt Nam thắng mọi giặc giã xâm lược là một tất yếu!

2. Kết tinh từ đời sống, được khúc xạ qua lăng kính nhạy cảm, những hình tượng thơ được khái quát cao, mang tính biểu tượng, để qua đó người đọc nhìn thấy cả một viễn cảnh. “Mồ anh hoa nở” được Thanh Hải làm trong những năm đầu chống đế quốc Mỹ. Nhưng đọc lên lại thấy chiến thắng sắp đến, rất gần. Bọn Mỹ-Diệm giết một người cộng sản, rồi phơi xác anh “đầu ngõ xóm”. Bỏ đi, lũ quỷ còn dọa: “Không đứa nào được chôn!”. Nhưng “Lũ chúng vừa quay lưng/ Chiếc quan tài sơn son/ Đã đưa anh về mộ/ Đi theo sau hồn anh/ Cả làng quê đường phố/ Cả lớn nhỏ, gái trai/ Đám càng đi, càng dài/ Càng dài càng đông mãi”. Miêu tả một đám tang nhưng bạn đọc lại hình dung ra một chiến thắng. Ngoài tài năng, cơ bản hơn, là cái ý bật toát ra từ hình tượng: Đó là cuộc kháng chiến chính nghĩa. Tình quân dân sẽ kết thành dòng thác cực kỳ mạnh mẽ quét phăng lũ cướp nước và bán nước. Không một lời dọa dẫm nào ngăn được sự quyết tâm, ý chí, tình yêu của nhân dân với cách mạng. Đám tang người cộng sản trở thành cuộc diễu hành lực lượng đoàn kết quân dân như một. Tên bài thơ vì thế không thể khác: "Mồ anh hoa nở". Đó là cái chết “gieo mầm” (tên một truyện ngắn của Nguyễn Thiều Nam). Bài thơ vừa là bi ca, cũng là hùng ca, tráng ca.

leftcenterrightdel

Những người mẹ ở xã Đa Mai (Bắc Giang, nay là Bắc Ninh) vá áo cho bộ đội trong những năm đế quốc Mỹ đánh phá miền Bắc ác liệt. Ảnh tư liệu 

Trong dịp khảo sát tình hình chiến sự trên địa bàn Quân khu 4 cuối năm 1965, nhà thơ Tố Hữu viết bài “Mẹ Suốt”. Lấy sông nước, bầu trời tự do làm nền, nhà thơ đã điêu khắc tượng đài người mẹ bằng ngôn ngữ của niềm tin, tình thương, lòng kính trọng, khâm phục, biết ơn. Mẹ “lái chiếc đò ngang” đưa bộ đội vào Nam chiến đấu: “Sợ chi sóng gió tàu bay/ Tây kia mình đã thắng, Mỹ này ta chẳng thua!”. Cũng với nguyên tắc ấy, trước đó, trong bài “Mẹ Tơm” (1961), nhà thơ Tố Hữu nâng hình tượng người mẹ ngang tầm vũ trụ: “Thương người cộng sản, căm Tây-Nhật/ Buồng mẹ-buồng tim-giấu chúng con/... Bóng mẹ ngồi canh lẩn bóng cồn...”. “Buồng mẹ-buồng tim-giấu chúng con” là hình ảnh đa nghĩa. Mẹ giấu các con vào căn buồng của mẹ, theo nghĩa thực. Cũng có thể hiểu là “buồng tim” mẹ, theo nghĩa bóng. Mẹ ngồi “canh” không cho giặc “động” đến các con. Bóng mẹ “nhập” (lẩn) vào vũ trụ. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược tất yếu thắng lợi vì đất nước có những người mẹ như vậy.

3. Anh bộ đội ra trận đánh Mỹ mang theo hình ảnh người mẹ, người vợ, người chị, người em. Họ là điểm tựa vật chất, cũng là điểm tựa tinh thần. Người chồng ra trận, nhớ về người vợ “níu giường níu chiếu đợi anh...” (Hữu Thỉnh-"Nghe tiếng cuốc kêu"). Quê hương và “em” trở thành hành trang tinh thần giúp người lính thêm sức mạnh: “... đêm đánh giặc mịt mù cao điểm/ vạch lá rừng nhìn xuống quê em/ mặt đất ra sao mà thúc vào điệu lý/ khuôn mặt ra sao mà suốt thời chống Mỹ/ lý ngựa ô hát đến mê người/ mỗi bước mỗi bồn chồn về đó em ơi”...  (Phạm Ngọc Cảnh-"Lý ngựa ô ở hai vùng đất"). Người Việt Nam đánh giặc và thắng giặc không chỉ bằng vũ khí, trí tuệ, bản lĩnh hay lòng dũng cảm mà còn bằng văn hóa ngàn đời, bằng tình yêu. Tất cả điều đó kết tinh, lắng lại trong trái tim người lính. Chiến tranh đi liền với chia ly. Nhưng chiến tranh chống đế quốc Mỹ thì chia ly là để “gặp lại”. Bài thơ "Cuộc chia ly màu đỏ" của Nguyễn Mỹ là một tiếng thơ nhiệt tình lý tưởng, của đoàn kết quân dân, hậu phương-tiền tuyến. Bài thơ tiêu biểu cho thơ tình yêu thời chống Mỹ, đã kết hợp hài hòa cái cá nhân riêng tư với cái cộng đồng, tạo ra một cặp hình tượng đặc sắc chỉ thấy xuất hiện ở thời này, trước đó và sau này không có: Người yêu/ đất nước-quê hương. Với: “Anh yêu em như yêu đất nước” (Nguyễn Đình Thi-"Nhớ"); “Mặt em là quê hương” (Tế Hanh-"Mặt quê hương"); “Em chính là quê hương ta đó” (Lê Anh Xuân-"Trở về quê nội"); “Em đứng/ Như quê hương/ Vai áo bạc/ Quàng súng trường” (Nguyễn Đình Thi-"Lá đỏ"). Tất cả cùng ra trận: Anh bộ đội, “em” và “quê hương”. Tất cả đồng hành trên con đường giải phóng. Trôi trên dòng sông tình quân dân bao la, mạnh mẽ, 3 con thuyền biểu tượng ấy vừa đo độ nông-sâu; vừa tô điểm cho sự thao thiết, hùng vĩ và sâu lắng, êm đềm; vừa đẩy dòng chảy trôi nhanh hơn tới biển cả chiến thắng.

Nhiều người lính thời chống Mỹ thuộc nằm lòng bài hát “Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý: “Tấm áo ấy bấy lâu nay con thường vẫn mặc/ Để nhớ ngày chúng con về Hà Bắc/ Quần nhau với giặc áo con rách thêm nên các mẹ già lại phải thức thâu đêm vá áo...”. Ra đời từ năm 1973, trong bối cảnh phong trào vá áo chiến sĩ, có biết bao bà mẹ đã thức khuya dậy sớm, vá quần áo cho bộ đội. Được mặc áo có tình mẹ, người lính như được thêm sức mạnh: “Lạ kỳ thay con đi như thế/ Bỗng khi nào chợt nhớ hậu phương/ Thì đường đang xa mà đôi chân nên khỏe/... Mọi gian lao mẹ con ta san sẻ/ Nhắm chân trời rạng rỡ ánh dương”. Dân thương, dân nuôi bộ đội như con. Kể cả lúc khó khăn, dân nhường cơm cho bộ đội ăn, nhường nhà cho bộ đội ở... Đúng với câu thơ “Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con”. Với mọi người lính Cụ Hồ, “đi hết đời”, “lòng dân” vẫn theo họ!

4. Có khách du lịch nước ngoài đã viết, đại ý rằng đến Việt Nam mà không đến thăm Tượng đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng, lấy nguyên mẫu từ Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ (Đà Nẵng) thì coi như chưa đến, chưa hiểu lịch sử văn hóa Việt Nam. Mẹ Nguyễn Thị Thứ có 9 người con ruột, 1 người con rể, 2 người cháu là liệt sĩ. Tượng đài được thiết kế từ phác thảo của họa sĩ Đinh Gia Thắng và kiến trúc sư Nguyễn Luận, đã nổi tiếng thế giới. Hai tay mẹ vòng rộng như ôm lấy nước non, ôm lấy các con. Dáng hình mẹ đã làm nên dáng hình xứ sở... Còn biểu tượng nào vĩ đại, thiêng liêng, sâu sắc hơn? Biểu tượng luôn kết tinh từ đời sống.

Một trong những cuốn hồi ký nổi tiếng của các tướng lĩnh trực tiếp tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ. cứu nước là cuốn “Ký ức Tây Nguyên” (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, năm 2000) của Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp. Thông qua ký ức của một vị chỉ huy, hồi ký hiện lên những trang lịch sử-tư liệu sống động nhất, vừa chiến lược, vĩ mô vừa chi tiết, cụ thể... Mỗi trang sách đều mang hơi thở chiến trận, mỗi con chữ đều là sự kết tinh, lắng đọng của trí tuệ, tâm trạng, với những phân tích, đánh giá sâu sắc. Hồi ký nêu lên những bài học lớn: Trước hết là sự lãnh đạo của Đảng, của Quân ủy Trung ương. Thứ hai là được sự ủng hộ tuyệt đối của nhân dân... Cuốn sách thuyết phục, chinh phục người đọc bằng nhiều chi tiết “vàng mười”, như: “Có một cô gái Ba Na tự làm mình bị thương để vào đồn địch xin thuốc về cứu chữa cho một chiến sĩ của ta bị thương”... Lịch sử văn hóa Việt đưa hình ảnh cô gái Ba Na ấy vào vị trí danh dự của bảo tàng chiến thắng, thành biểu tượng cho tình quân dân, cho chiến thắng, cho đạo lý, niềm tin, lẽ phải.

Lời Bác Hồ là lời nước non: “Quân tốt, dân tốt/ Muôn sự đều nên/ Gốc có vững, cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Đó là nguyên lý thắng lợi, là chân lý lịch sử, cũng là đạo lý truyền thống.

NGUYÊN THANH