Đưa đất nước vượt qua cơn sốc mang tính sinh tử

Từ giữa thập niên 1980, thế giới có biến. Hệ thống xã hội chủ nghĩa lún sâu vào cuộc khủng hoảng toàn diện. Và rồi, cái điều không ai mong, và cũng ít người ngờ rằng, đến đầu những năm 90 của thế kỷ 20, hệ thống ấy bị đổ. Từ Liên Xô, các con bài domino cứ thế bị cuốn theo. Lúc ấy, đâu đâu người ta cũng bàn tán về thời cuộc. Rồi đoán già đoán non rằng, Việt Nam cũng sẽ chung số phận như vậy. Nhưng, tự hào thay, Việt Nam đã đứng vững, hơn thế, còn vươn lên, vượt qua tất cả những lằn ranh khốn khó.

Đến mùa xuân này, Xuân Bính Ngọ, sau 40 năm nhìn lại, chúng ta tự hào về những bước đi ngoạn mục của mình để bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc như tâm nguyện của Bác Hồ kính yêu và ước vọng của toàn thể dân tộc.

Nếu không có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng thì đã không thể có bức tranh toàn cảnh đất nước như chúng ta đã thấy. Trước hết, Đảng đã đề ra đường lối đổi mới đúng đắn. Đường lối đó được ủ mầm, trăn trở, rồi được khảm vào Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986), Đảng từng bước xây dựng và hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới. Đường lối này chính là tổng thể các quan điểm, mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển và bảo vệ vững chắc đất nước; coi nhân dân là trung tâm, là chủ thể; kiên định mục tiêu mà Đảng đã đặt ra từ năm 1930; xác lập mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam với 3 trụ cột nền tảng: Kinh tế thị trường; nhà nước pháp quyền; nền dân chủ; từ đó quyết tâm thực hiện thắng lợi “điều mong muốn cuối cùng” của Bác Hồ trong "Di chúc": “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Đường lối đúng là quan trọng số 1, vì nếu “sai một li thì đi một dặm”, nhưng đường lối không phải như chiếc đũa thần hễ vung lên là đâu sẽ vào đó. Nó phải phổ được vào cuộc sống, thông qua sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, cùng với sự phấn đấu của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhất là từ sức mạnh vô biên của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong những cơn thử thách khắc nghiệt của thời cuộc, điều tuyệt vời nhất là Đảng đã quy tụ được lòng dân, Đảng không rời dân, dân không xa Đảng, nhất nhất hướng theo một véc-tơ lực thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững, quyết không để trượt vào vết xe đổ của nhiều đảng cộng sản trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đó.

Sau cơn mưa, trời lại sáng. Sau đông giá thì đến xuân hồng! Tưởng êm êm thế thôi, chứ đất nước này đã phải oằn mình qua bao đận khó! Đảng đã kịp đi đúng quy luật khách quan, làm tròn sứ mệnh mà lịch sử đã giao phó: Dẫn dân tộc kiên cường đầy bản lĩnh và trí tuệ bước lên con đường đổi mới. Không con đường nào khác. Khẩu hiệu “Đổi mới hay là chết!” đã phần nào phản ánh dấu ấn đó.

leftcenterrightdel
Tranh của PHẠM HÀ

Bảo vệ và xây dựng đất nước, thoát được nghèo 

40 năm Đảng lãnh đạo đổi mới đất nước, Việt Nam tiếp tục bảo vệ được 4 điểm trong tổ hợp cấu thành quyền dân tộc cơ bản thiêng liêng của mình: Độc lập; chủ quyền; thống nhất; toàn vẹn lãnh thổ.

Nếu lơ là, sơ sẩy một chút trong thời buổi này, trong cái thế địa-chính trị, địa-kinh tế nhạy cảm này là sẽ bị trả giá ngay. Khí phách Đại Việt trong bài thơ "thần" “Nam quốc sơn hà” thời Lý thế kỷ 11 còn đó. Tính hào sảng vang lên hào khí Đông A trong Hội nghị Diên Hồng, lời hịch, trong “Binh thư yếu lược” của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn thế kỷ 13 cũng như trong chiếu Tây Sơn những ngày giáp Tết Kỷ Dậu 1789 còn đây. Tiếng vọng đầy khí khái thắng trận của “Bình Ngô đại cáo” thời Lê thế kỷ 15 vẫn vang vọng. Lời non nước đúc từ “Tuyên ngôn Độc lập” bất hủ ngày 2-9-1945 do vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Hồ Chí Minh tuyên đọc tại Vườn hoa Ba Đình, Hà Nội vẫn còn lan tỏa.

Trải qua bao dâu bể, vật đổi sao dời, Đảng và nhân dân Việt Nam tiếp nối được tinh thần bất diệt qua 40 năm đổi mới. Việt Nam đã được trải nghiệm những thử thách mới với không gian internet toàn cầu, với nguồn lực của “sức mạnh mềm”, của “an ninh phi truyền thống”, với những toan tính mới trên bàn cờ địa-chính trị rối rắm, với sự nhiễu nhương phá rối an ninh cũng như phá môi trường phát triển của đất nước ta từ các thế lực thù địch.

Nhân dân Việt Nam đã phải gồng mình lên bảo vệ Tổ quốc từ biên giới phía Tây Nam và biên giới phía Bắc. Đảng lãnh đạo đất nước bước vào công cuộc xây dựng, mà theo "Di chúc" của Bác thì đây là “một cuộc chiến đấu khổng lồ” chống lại nghèo nàn, lạc hậu. 10 năm (1975-1985), hơn cả con số 10 ấy, đất nước dần rũ bỏ được cơ chế cũ để bước vào tư duy, hành động mới. Con số 40 năm, nếu so với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc thì quả là ít, nhưng so với nhịp đi, bước tiến của thiên hạ và so với yêu cầu phát triển của đất nước thì nó không ít.

Nói thế để thấy áp lực, bức bách trên con đường phát triển nhanh-bền vững. Đầu tiên, Việt Nam ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội vào thập niên 1990 để bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực thi nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa, thoát được nghèo, thực hiện xuất sắc các mục tiêu thiên niên kỷ.

Hiện nay, Việt Nam nổi lên như là một hiện tượng phát triển nhanh của khu vực, lọt tốp 15 châu Á với tổng sản phẩm trong nước (GDP) hơn 500 tỷ USD.

“Ấn tượng trong ấn tượng” là cuộc chống tà, trừ gian. Như lời của Bác thì đây là cuộc chiến chống “giặc nội xâm”. Loại giặc này nguy hiểm không kém gì giặc ngoại xâm. Giặc ngoại xâm thì rõ hình thù, còn đây là “thứ giặc ở trong lòng”. Cuộc sống bao giờ cũng có tương sinh tương khắc, nói theo triết học biện chứng thì đó là hai mặt thống nhất trong đối lập. Chưa có giai đoạn cách mạng nào mà để lại ấn tượng sâu đậm về mặt này đến như thế. Đảng đã kiên quyết vượt qua chính mình, gạt phăng những can nhiễu, lực cản trên đường đi, kiên quyết, dũng cảm chữa trị những ung nhọt trên cơ thể mình.

Tích cực, chủ động hội nhập quốc tế

Chưa bao giờ như trong 40 năm đổi mới, đất nước ta lại có uy tín quốc tế lớn như thế. Đảng đã thực hiện được ý tưởng của Bác Hồ: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ, không gây thù oán với một ai.

Trong 40 năm qua, Đảng đã đề ra và lãnh đạo thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Việt Nam đã tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình để phát triển, coi sức mạnh nội lực có tính quyết định, ngoại lực là quan trọng, mở rộng hơn nữa quan hệ quốc tế trên tinh thần quảng giao để phát triển. Đáng chú ý là những kết quả đạt được như vậy diễn ra trong hoàn cảnh trái đất này có nhiều “gió chướng”.

Xuân này, Việt Nam bước vào ngưỡng cửa kỷ nguyên mới. Năm Bính Ngọ, chúng ta mong con ngựa sung mãn này sẽ phi nước đại với những nhịp thật vững chắc.

GS, TS MẠCH QUANG THẮNG