Với mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên, tự học, tự đổi mới là nhu cầu tự thân của cuộc sống, công việc; là đòi hỏi của công tác và quá trình cống hiến lâu dài. Tự học, tự đổi mới chính là quá trình cập nhật kiến thức phục vụ chính người đó để làm tròn vai trò tiền phong, gương mẫu trong lãnh đạo, thực hiện nhiệm vụ.

Nhưng nếu đặt trong không gian lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng cầm quyền, tự học, tự đổi mới là phương thức, là một giá trị văn hóa cốt lõi trong lãnh đạo. Chính nhờ năng lực tự học, tự đổi mới bền bỉ ấy, Đảng đã không ngừng điều chỉnh tư duy, phương thức lãnh đạo để thích ứng với những biến đổi sâu sắc của thực tiễn, đồng thời vẫn giữ vững mục tiêu, lý tưởng và bản chất giai cấp công nhân cách mạng, khoa học.

Trong công tác lãnh đạo của Đảng, tự học, tự đổi mới là một nhu cầu khách quan, là lựa chọn mang tính sống còn. Học để hiểu dân, học để hiểu thời cuộc, học để không lặp lại chính mình trong một thế giới không ngừng thay đổi; học để hoàn thiện công tác lãnh đạo, để đưa đất nước, dân tộc phát triển, xây dựng đất nước Việt Nam cường thịnh.

Với văn hóa kiên định lý tưởng và mục tiêu, tự học, tự đổi mới giữ vai trò điều chỉnh phương thức. Bởi khi kiên định mà không học, không đổi mới dễ rơi vào bảo thủ; học mà không kiên định sẽ trượt sang dao động. Tự học, tự đổi mới giúp Đảng hiểu sâu hơn mục tiêu của mình trong bối cảnh mới, từ đó đổi mới cách lãnh đạo mà không làm phai nhạt bản chất. Nói cách khác, tự học, tự đổi mới là “cầu nối” giữa kiên định và sáng tạo.

Với văn hóa gắn bó với nhân dân, tự học, tự đổi mới chính là con đường để lắng nghe nhân dân thực chất. Nhân dân không chỉ là đối tượng phục vụ, đối tượng của lãnh đạo mà còn là nguồn tri thức sống động về hiệu quả lãnh đạo. Khi Đảng học từ đời sống của dân, tôn trọng phản ánh, kiến nghị, thậm chí từ bức xúc của xã hội thì mối quan hệ chính trị, văn hóa giữa Đảng và dân ngày càng tin cậy, thắt chặt.

leftcenterrightdel
Minh họa: MAI MINH

Với văn hóa đạo đức và nêu gương, tự học, tự đổi mới đóng vai trò tự soi và dẫn đường. Không có tự học, nêu gương dễ trở thành hình thức; không có tự đổi mới, đạo đức dễ bị đóng khung trong những chuẩn mực cũ, không theo kịp yêu cầu của thời đại. Tự học, tự đổi mới buộc người lãnh đạo phải thường xuyên xem lại mình, từ đó giữ được sự trong sáng và sức thuyết phục đạo đức.

Với văn hóa kỷ luật và tổ chức, tự học, tự đổi mới giúp kỷ luật không biến thành máy móc. Kỷ luật có văn hóa là kỷ luật biết phân biệt giữa sai lầm do hạn chế nhận thức và sai phạm do động cơ cá nhân. Tự học, tự đổi mới tạo ra năng lực điều chỉnh trong thực thi kỷ luật, để tổ chức vừa nghiêm minh vừa nhân văn.

Với văn hóa trí tuệ và tư duy khoa học trong lãnh đạo, tự học, tự đổi mới chính là nền tảng. Không có tự học, trí tuệ tập thể sẽ cạn dần, tư duy khoa học sẽ bị thay thế bằng kinh nghiệm chủ quan. Tự học, tự đổi mới giữ cho lãnh đạo không ngừng cập nhật tri thức mới, không ngừng nâng cao chất lượng quyết sách...

Nhìn tổng thể, có thể nói: Tự học, tự đổi mới giữ vai trò “kích hoạt” và “liên kết” các đặc trưng văn hóa khác. Nó làm cho kiên định không cứng nhắc, đạo đức không hóa khẩu hiệu, kỷ luật không hóa hình thức và gắn bó với nhân dân không dừng ở tuyên ngôn.

Trong lịch sử, khi tự học, tự đổi mới được đặt đúng vị trí, các đặc trưng văn hóa của Đảng phát huy mạnh mẽ, tạo nên sức sống và uy tín lãnh đạo. Vì vậy, có thể coi tự học, tự đổi mới là “trục động” của văn hóa lãnh đạo. Trong một thế giới biến động nhanh, "trục động" ấy càng cần được nuôi dưỡng để văn hóa lãnh đạo của Đảng vừa giữ được bản sắc vừa linh hoạt để đi cùng dân tộc trong những chặng đường mới.

Lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy: Tự học xuất hiện trước cả khi Đảng trở thành một đảng cầm quyền. Trong những năm tháng đầu tiên, tự học là cách duy nhất để những người cộng sản Việt Nam tiếp cận Chủ nghĩa Mác-Lênin, để giải mã con đường giải phóng dân tộc trong hoàn cảnh thuộc địa đầy phức tạp. Chính nhờ đặc trưng văn hóa tự học, tự đổi mới mà Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần vượt qua những khúc quanh lịch sử, giữ được vai trò lãnh đạo trong những hoàn cảnh tưởng chừng không thể.

Thực tế cho thấy, trong các chặng đường cách mạng, mỗi bước ngoặt lớn của đất nước, của dân tộc đều gắn với quá trình học tập và tự đổi mới tư duy của Đảng. Từ chuyển hướng chiến lược trong Cách mạng Tháng Tám đến đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện; từ tư duy thời chiến sang tư duy xây dựng hòa bình; từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang đường lối đổi mới.

Một ví dụ sinh động khẳng định văn hóa tự học, tự đổi mới của Đảng là vào Đại hội VI (năm 1986). Tại đại hội này, cùng với việc đề ra đường lối đổi mới, Đảng đã khẳng định phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong văn kiện Đảng xác định: “Đảng phải trưởng thành về lãnh đạo chính trị, phát triển và cụ thể hóa đường lối, đề ra những giải pháp đúng đắn đối với những vấn đề mới của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Để tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực tiễn của mình, Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: Đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác. Đảng phải chăm lo xây dựng mình vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, để từ đó tác động quyết định đến sự phát triển của cách mạng nước ta”(*).

Từ đây, chúng ta hiểu văn hóa tự học trong lãnh đạo của Đảng trước hết là học cách định hướng, học cách đặt câu hỏi lớn cho xã hội, học cách dẫn dắt sự đồng thuận. Bởi người lãnh đạo học để mở đường chứ không chỉ để làm đúng quy trình. Học để nhìn xa chứ không chỉ để xử lý tình huống trước mắt. Học để tạo ra hệ giá trị dẫn dắt chứ không chỉ để tối ưu hóa hiệu suất.

Ở khía cạnh khác, tự học, tự đổi mới trong lãnh đạo là học cách lắng nghe. Đó là lắng nghe nhân dân, lắng nghe trí thức, lắng nghe phản biện xã hội và cả lắng nghe những tín hiệu bất ổn từ chính đời sống chính trị-xã hội. Lắng nghe ở đây là chủ động tiếp nhận thông tin để lãnh đạo điều chỉnh phương thức, cách làm, từ đó giúp nâng cao năng lực văn hóa trong công tác lãnh đạo.

Hiện nay, trong điều kiện thế giới đầy biến động, chưa bao giờ khoảng cách giữa kinh nghiệm quá khứ và thực tiễn hiện tại lại lớn như vậy. Công nghệ 4.0, kinh tế số, không gian mạng, trí tuệ nhân tạo... đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong cấu trúc xã hội, phương thức sản xuất, cách con người tiếp nhận thông tin và hình thành niềm tin.

Trong bối cảnh ấy, tự học, tự đổi mới trở thành cấp thiết trong công tác lãnh đạo của Đảng. Nếu không tự học, lãnh đạo sẽ chậm hơn xã hội. Nếu chậm hơn xã hội, vai trò dẫn dắt sẽ bị xói mòn. Thực tế, việc lãnh đạo đổi mới chuyển từ mô hình chính quyền địa phương 3 cấp sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp trong thời gian ngắn như hiện nay đã phản ánh đầy đủ quyết tâm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Và đó cũng là một phản ánh trung thực nhất văn hóa tự học, tự đổi mới của Đảng trong bối cảnh thế giới thay đổi nhanh chóng.

Từ những cơ sở ấy, tôi cho rằng tự học, tự đổi mới trong thời đại hiện nay là học cách hiểu dữ liệu, hiểu sâu về không gian số, hiểu tâm lý xã hội trong môi trường mạng, hiểu cách "quyền lực mềm" vận hành. Đồng thời, đó còn là học cách bảo vệ bản lĩnh chính trị, bản sắc văn hóa của Đảng, của dân tộc trước sự xâm nhập của những giá trị lai ghép, phiến diện.

Thực tiễn cho thấy, tính cấp thiết này là yêu cầu với mọi cán bộ, đảng viên trong Đảng, đặc biệt là những cán bộ, đảng viên đang giữ cương vị chủ trì lãnh đạo cơ quan, đơn vị, địa phương. Bởi nếu không được nuôi dưỡng và phát triển đúng cách thì những giá trị văn hóa đã có sẽ phai nhạt, lạc hậu. Nếu chỉ xác định tự học, tự đổi mới theo phong trào và không là nhu cầu nội tại thì văn hóa ấy chỉ là hình thức, bình phong cho con đường tiến thân, không đủ sức để đi cùng thời cuộc.

Nuôi dưỡng văn hóa tự học, tự đổi mới chính là nuôi dưỡng sức sống của Đảng. Đó là cách để văn hóa lãnh đạo vừa giữ được bản sắc đã được lịch sử khẳng định vừa đủ năng lực đồng hành và dẫn dắt dân tộc trong những chặng đường phát triển mới.

Thượng tá, TS HOÀNG CHUNG HIẾU,  Học viện Quốc phòng

(*) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB CTQG, H.2006, T.47, tr.458