Chiều sâu nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh
Thơ Hồ Chí Minh không đồ sộ về số lượng theo nghĩa một sự nghiệp thi ca chuyên nghiệp, nhưng lại đặc biệt ở chỗ đó là tiếng nói của một nhà cách mạng sống giữa tù ngục, chiến khu, đêm rừng, đường núi, sông trăng, gian khó và vận mệnh dân tộc. Giọng thơ ấy không tách khỏi đời sống mà được chưng cất, tinh luyện từ chính đời sống. Thơ Hồ Chí Minh ở giữa dòng chảy dữ dội của lịch sử vẫn giữ được vẻ ung dung của một tâm hồn văn hóa lớn.
Từ tập thơ “Nhật ký trong tù” đến những bài thơ viết ở Việt Bắc như “Cảnh khuya”, “Rằm tháng giêng”, “Tức cảnh Pác Bó”, “Cảnh rừng Việt Bắc” và các bài thơ chúc Tết sau này..., dễ dàng nhận ra một điều, văn hóa con người Hồ Chí Minh không phải là khái niệm trừu tượng. Điều đó hiện ra qua cách Người ngắm nhìn thiên nhiên, đối diện với gian khổ, thái độ ứng xử với con người, giữ vững lý tưởng, làm chủ bản thân và đặt cái riêng trong cái chung lớn lao của dân tộc.
Nét trung tâm trong văn hóa Hồ Chí Minh là lòng yêu nước. Đó là tình yêu nước gắn với trách nhiệm giải phóng con người, với khát vọng độc lập cho dân tộc và hạnh phúc cho nhân dân. Vì thế, tình yêu nước ấy vừa nồng nàn, vừa tỉnh táo, vừa có chiều sâu truyền thống, vừa có tầm nhìn hiện đại. Khi bị giam trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, Người viết thơ trong cảnh thân thể bị giam cầm, nhưng tâm trí vẫn hướng về nhiệm vụ cách mạng. Bài “Không ngủ được” có câu thơ nổi tiếng: “Một canh, hai canh, lại ba canh”, rồi kết lại bằng hình ảnh con người thao thức vì vận nước “Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”. Đó không phải nỗi mất ngủ cá nhân mà là sự thao thức của một người mang trong lòng trách nhiệm với dân tộc, đất nước.
Ở lãnh tụ Hồ Chí Minh, lòng yêu nước không tách khỏi thương dân. Người không nhìn nhân dân như một khái niệm chính trị xa xôi, mà như những con người cụ thể. Họ là người phu đường, người tù, người nông dân, em bé, phụ nữ, người lao động nghèo... Trong “Nhật ký trong tù”, có những bài thơ ghi lại cảnh áp giải, cảnh tù nhân, cảnh người dân khổ cực... Qua đó, người đọc thấy một trái tim luôn nghiêng về phía những số phận bị áp bức. Văn hóa yêu nước ở đây chính là văn hóa nhân dân, yêu nước vì yêu dân, giải phóng dân tộc vì muốn giải phóng con người.
Một trong những vẻ đẹp sâu xa nhất trong thơ Hồ Chí Minh là lòng nhân ái và niềm tin vào con người. Bài thơ “Nghe tiếng giã gạo” gợi nhắc một triết lý rằng hạt gạo phải qua giã, giần mới trắng trong. Con người cũng vậy, phải qua gian nan rèn luyện mới nên phẩm chất. Đây là một quan niệm vừa mang màu sắc phương Đông, vừa rất hiện đại, con người không phải một thực thể bất biến mà có thể tự vượt lên chính mình qua giáo dục, lao động, thử thách.
    |
 |
Chân dung Bác Hồ. Tranh của họa sĩ QUỐC THẮNG
|
Khi nói đến Hồ Chí Minh, hai chữ “giản dị” thường được nhắc đến. Nhưng giản dị ở Người là một lựa chọn văn hóa. Giản dị vì đã đi qua nhiều nền văn minh, tiếp xúc nhiều hệ tư tưởng, sống trong nhiều không gian xã hội khác nhau, nhưng cuối cùng vẫn chọn sự thiết thực, gần dân, gần đời, gần chân lý. Bài thơ “Tức cảnh Pác Bó” là một minh chứng đặc sắc. Chỉ với vài câu thơ, Người dựng lên cả một phong thái sống “Sáng ra bờ suối, tối vào hang”, “cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng”. Hoàn cảnh cách mạng thiếu thốn, gian khổ, nhưng giọng thơ lại hóm hỉnh, ung dung. Câu kết “Cuộc đời cách mạng thật là sang” là một phát hiện văn hóa thú vị. “Sang” ở đây không phải sang trọng vật chất, mà là sự giàu có tinh thần. Người cách mạng có lý tưởng, có tự do nội tâm, có niềm vui phụng sự, nên giữa hang đá, suối rừng vẫn thấy đời “sang”. Trong thời đại hôm nay, khi con người dễ bị cuốn vào tiêu dùng, hình thức, danh vọng, bài thơ ấy vẫn còn nguyên sức gợi nhắc rằng văn hóa đích thực không nằm ở sự phô bày, mà ở năng lực sống có ý nghĩa.
Một nét lớn trong văn hóa con người Hồ Chí Minh là tinh thần lạc quan. Đó là bản lĩnh tinh thần được tôi luyện qua thử thách. Trong tập thơ “Nhật ký trong tù”, bối cảnh sáng tác là nhà tù, bệnh tật, đói rét, xiềng xích, bị giải đi qua nhiều nơi. Thế nhưng tập thơ không tạo cảm giác tuyệt vọng. Trái lại, nó cho thấy một con người có khả năng giữ tự do tinh thần ngay trong cảnh mất tự do thân thể. Bài thơ “Ngắm trăng” là một biểu tượng đẹp. Trong tù không rượu, không hoa, nhưng có trăng và có người tri âm với trăng. Người tù ngắm trăng qua song sắt, trăng cũng “nhòm khe cửa” ngắm nhà thơ. Đây chính là văn hóa tự do ở tầng sâu nhất. Tự do không chỉ là điều kiện chính trị, xã hội, mà còn là ở năng lực tinh thần. Các bài thơ chúc Tết của Hồ Chí Minh cũng là minh chứng rõ nét cho tinh thần lạc quan ấy với lời kêu gọi “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”.
Trí tuệ và bản lĩnh văn hóa Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có trí tuệ thực tiễn rất lớn. Thơ Người vì thế thường ngắn gọn nhưng chứa đựng tư duy biện chứng sâu sắc. Người thường nhìn sự vật trong sự vận động, thay đổi như đêm rồi sẽ sáng, gian nan rồi sẽ thành tựu, thử thách rồi sẽ rèn nên bản lĩnh, đường núi càng cao tầm nhìn càng rộng. Bài “Đi đường” là ví dụ tiêu biểu. Từ kinh nghiệm leo núi, bài thơ mở ra triết lý về cách mạng và đời người. Khi chưa đi, không biết đường khó, khi đã vượt qua nhiều lớp núi, người đi đường mới đứng trên đỉnh cao mà nhìn rộng. Đây không chỉ là thơ phong cảnh mà còn là thơ tư tưởng.
Bài “Học đánh cờ” cũng cho thấy một tư duy chiến lược rằng đánh cờ không chỉ là trò chơi, mà là nghệ thuật nhìn thế, nắm thời, biết tiến, biết lui, biết toàn cục. Qua thơ, Hồ Chí Minh gửi vào đó kinh nghiệm chính trị và quân sự rằng muốn thắng phải có mưu lược, kiên nhẫn, tỉnh táo. Ở Người, văn hóa trí tuệ không phải chỉ là kiến thức sách vở mà còn là năng lực nhận ra quy luật trong đời sống. Nhiều bài thơ khác trong tập “Nhật ký trong tù” cũng vận hành theo kiểu từ một hiện tượng nhỏ rút ra một chân lý lớn. Cách tư duy ấy thể hiện một nét văn hóa đặc biệt là lấy cái cụ thể để nói cái phổ quát, lấy đời thường để khắc họa triết lý.
Thơ Hồ Chí Minh có sự kết tinh sâu sắc của văn hóa phương Đông. Nhưng điều quan trọng là Người dùng hình thức cổ điển để chuyển tải tinh thần hiện đại. Trong thơ cổ, cảnh chiều thường gợi nỗi buồn ly biệt, cô đơn. Nhưng trong “Chiều tối”, cảnh chiều lại kết thúc bằng ánh lửa lao động. Trong thơ cổ, trăng thường gắn với thú thanh nhàn của ẩn sĩ. Nhưng trong “Ngắm trăng”, trăng đi vào nhà tù, trở thành chứng nhân cho tự do tinh thần. Trong thơ cổ, núi cao thường gợi sự thoát tục. Nhưng trong “Đi đường”, núi cao gắn với hành trình cách mạng.
Sự chuyển hóa ấy cho thấy văn hóa Hồ Chí Minh không phải sự bảo tồn tĩnh tại, mà là sáng tạo. Người tiếp nhận truyền thống để làm mới truyền thống. Người dùng ngôn ngữ cổ điển nhưng thổi vào đó tinh thần dân chủ, tinh thần giải phóng, tinh thần hành động. Đây cũng là bài học lớn cho văn hóa Việt Nam hôm nay khi hiện đại hóa không có nghĩa là đoạn tuyệt với truyền thống.
Nếu chỉ đọc vài bài thơ thiên nhiên của Hồ Chí Minh, có thể thấy Người có tâm hồn rất thi sĩ. Nhưng nếu đặt những bài thơ ấy vào hoàn cảnh ra đời sẽ hiểu, thi sĩ ấy không hề xa rời chiến sĩ. Trăng trong thơ Người là trăng của người tù cách mạng, suối rừng Việt Bắc là không gian kháng chiến, đường núi là đường áp giải, ánh lửa chiều tối là ánh lửa lao động và niềm tin.
Từ thơ nhìn thấy người, từ người nhìn thấy văn hóa, thi ca Hồ Chí Minh là một cánh cửa để đi vào chiều sâu văn hóa con người Hồ Chí Minh. Văn hóa Hồ Chí Minh nhìn từ thi ca là văn hóa của một sự hài hòa lớn. Đó là sự hài hòa giữa lý tưởng và đời sống, giữa cái đẹp và trách nhiệm, giữa tự do tinh thần và kỷ luật cách mạng, giữa truyền thống dân tộc và tinh hoa nhân loại. Đó là văn hóa lấy con người làm trung tâm, lấy độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc làm mục tiêu.
TS HÀ THANH VÂN