Văn hóa đoàn kết Việt Nam được bắt nguồn từ làng xã, nơi “tắt lửa tối đèn có nhau”, từ nền nông nghiệp lúa nước buộc con người phải chung sức trị thủy, chia mùa, giữ đất. Trải qua nghìn năm chống ngoại xâm, đoàn kết trở thành phản xạ văn hóa khi đất nước lâm nguy, khác biệt được gác lại, lợi ích chung được đặt lên trên lợi ích riêng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát bằng một câu có ý nghĩa vượt thời đại: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”.
Văn hóa đoàn kết Việt Nam được hiểu ngắn gọn là hệ giá trị tinh thần và chuẩn mực ứng xử được hình thành, bồi đắp qua lịch sử dựng nước và giữ nước, thể hiện ý thức gắn bó cộng đồng, đặt lợi ích dân tộc, nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, tôn trọng sự khác biệt trong thống nhất, cùng chung mục tiêu, chung trách nhiệm và hành động vì sự tồn tại, độc lập, phát triển và hạnh phúc của đất nước.
Trong khái niệm sơ lược này nhận thấy có 4 vấn đề cốt lõi đã được chứng minh qua chiều dài dựng nước và giữ nước của dân tộc; được hun đúc bằng mồ hôi trong lao động, máu xương trong chiến tranh và bản sắc, bản lĩnh của dân tộc Việt Nam.
Thứ nhất, đoàn kết là một giá trị văn hóa đã ăn sâu vào lối sống, đạo lý và tâm thức xã hội, được truyền từ gia đình, làng xã đến quốc gia, từ ca dao tục ngữ đến đường lối cách mạng.
Thứ hai, đó là sự thống nhất trong đa dạng. Văn hóa đoàn kết Việt Nam không đồng nhất hóa con người, không xóa bỏ khác biệt về dân tộc, tôn giáo, giai tầng, vùng miền hay quan điểm, mà tạo ra một điểm quy tụ cao hơn: Lợi ích chung của Tổ quốc và nhân dân.
Thứ ba, đó là sự kết hợp giữa tình cảm và lý trí. Đoàn kết không chỉ dựa vào lòng thương yêu mà còn dựa trên niềm tin chính trị, sự đồng thuận xã hội và kỷ luật chung. Chính vì vậy, có khả năng chuyển hóa tình cảm thành sức mạnh tổ chức và hành động.
Thứ tư, đó là nguồn lực nội sinh đặc biệt của cách mạng Việt Nam. Văn hóa đoàn kết tạo nên mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; biến quần chúng thành chủ thể lịch sử; giúp dân tộc vượt qua những thời khắc mà tiềm lực vật chất còn hạn chế.
Biểu hiện của văn hóa đoàn kết là rất đời thường nhưng bền bỉ. Đó là tinh thần “bầu ơi thương lấy bí cùng”, là sự cố kết giữa các giai tầng xã hội, các dân tộc, tôn giáo trong một mục tiêu chung. Trong cách mạng, nó hiện ra rõ nhất ở Mặt trận Dân tộc thống nhất; trong chiến tranh, là hậu phương nuôi tiền tuyến; trong hòa bình, là cả nước chung tay vượt thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng.
Khi nói về 40 năm đổi mới, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng khẳng định: Sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh to lớn của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Điều này cho thấy, văn hóa đoàn kết trong sự nghiệp cách mạng là nguồn lực tinh thần lớn hơn mọi vũ khí, cho phép một dân tộc nhỏ đứng vững trước những đối thủ lớn hơn nhiều lần. Văn hóa đoàn kết tạo niềm tin giữa Đảng với nhân dân, giữa người lãnh đạo với quần chúng. Không có đoàn kết, cách mạng chỉ là ý tưởng; có đoàn kết, ý tưởng trở thành sức mạnh vật chất. Ví dụ, năm 2025, lượng kiều hối gửi về Việt Nam đạt mức kỷ lục gần 20 tỷ USD. Hay qua việc toàn dân chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước, cơ bản hoàn thành vào cuối năm 2025 đã tạo ra kỳ tích về an sinh xã hội. Đây là minh chứng sống động cho tinh thần hướng về Tổ quốc và văn hóa đoàn kết được phát huy mạnh mẽ.
Trong bối cảnh mới, những nội hàm của khái niệm văn hóa đoàn kết không cũ đi mà đòi hỏi cần được hiểu sâu hơn theo đúng tinh thần quan điểm chỉ đạo trong tầm nhìn và định hướng phát triển mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định: Khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển. Từ quan điểm này, theo tôi, vun đắp văn hóa đoàn kết trong kỷ nguyên mới không chỉ để chống lại các yếu tố tác động từ bên ngoài mà còn để vượt qua những rạn nứt vô hình từ bên trong. Đó là phải tổ chức phân phối lợi ích hài hòa. Đó là phòng, chống hiệu quả chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và tư duy nhiệm kỳ cùng những thử thách tinh vi trong thời bình.
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn. Tính đến hết năm 2025, quy mô nền kinh tế ước đạt hơn 500 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người tiệm cận mốc 4.900USD. Việt Nam đã nằm trong top 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh thời cơ bước vào kỷ nguyên mới, Việt Nam phải đối mặt với nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, từ đầu năm 2026, tình hình thế giới có những chuyển biến sâu sắc, chuyển sang trạng thái "đa khủng hoảng" và "phân mảnh sâu sắc". Cạnh đó, do tốc độ tăng trưởng thương mại toàn cầu đang chậm lại, xu hướng bảo hộ, các liên kết khu vực và sự cạnh tranh khốc liệt về công nghệ lõi (AI, bán dẫn, lượng tử) đã mang lại vị thế mới cho các cường quốc công nghệ. Điều này khiến Việt Nam đứng trước hai lựa chọn: Hoặc bứt phá để tham gia vào nhóm dẫn dắt (leader), hoặc tụt hậu và mắc kẹt trong “bẫy thu nhập trung bình”.
Trước tình hình ấy, tôi cho rằng, trong kỷ nguyên mới, văn hóa đoàn kết cần được hiểu sâu rộng hơn, hướng tới sự thống nhất về ý chí, niềm tin, khát vọng và bằng nguồn lực kinh tế. Văn hóa đoàn kết là nền tảng để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thông qua đường lối đối ngoại "cây tre Việt Nam", giúp ta tranh thủ được vốn, công nghệ và thị trường từ tất cả đối tác lớn trên thế giới (Mỹ, Trung Quốc, EU, Nga...).
Để tăng sức mạnh nội sinh trong văn hóa đoàn kết, theo tôi cần phải chuyển đổi căn bản về tư duy và văn hóa công vụ gắn với tinh thần "7 dám". Cần chuyển dứt khoát từ tư duy "làm hết việc" sang tư duy "làm được việc", từ "hoàn thành thủ tục" sang "đạt hiệu quả thực tế". Mỗi cán bộ, đảng viên cần rũ bỏ tâm lý tự ti, nhược tiểu hoặc tâm lý "ngủ quên trên chiến thắng". Trong kỷ nguyên mới, thước đo năng lực là sản phẩm cụ thể. Đồng thời, phải thực hành triệt để tinh thần "7 dám", đặc biệt là dám bước qua những rào cản tư duy cũ kỹ, dám hành động vì lợi ích chung. Cán bộ phải là người tiên phong mở đường, kiến tạo cơ hội chứ không phải là những "quan cách mạng" ngồi chờ cơ chế.
Thực hiện quyết liệt cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy và kỷ cương chống lãng phí, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo: Tinh gọn bộ máy là việc khó, đụng chạm đến lợi ích, nhưng vì sự tồn vong và phát triển của chế độ, chúng ta kiên quyết phải làm. Tôi cho rằng, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền phải nêu cao tính gương mẫu, sẵn sàng hy sinh lợi ích cục bộ để xây dựng bộ máy "tinh-gọn-mạnh-hiệu năng-hiệu lực-hiệu quả". Song song đó, phải tuyên chiến với "giặc nội xâm" lãng phí, kiên quyết cắt giảm những chi tiêu phô trương, hình thức để dồn lực cho đầu tư phát triển.
Tôi cũng cho rằng, cần khơi dậy khát vọng cống hiến trong toàn dân để mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp đều cảm thấy mình là một chủ thể của kỷ nguyên vươn mình. Trong đó nổi bật là đoàn kết để cho ra các động lực tăng trưởng mới, cho khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Qua đó biến thách thức của Cách mạng công nghiệp 4.0 thành cơ hội để Việt Nam đi tắt đón đầu, tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Khi ý Đảng hòa quyện với lòng dân, khi khát vọng của lãnh đạo trở thành hành động của nhân dân thì không có khó khăn nào không thể vượt qua, không có đỉnh cao nào không thể chinh phục.
Chỉ khi văn hóa đoàn kết trở thành đồng thuận xã hội, và đồng thuận xã hội được chuyển hóa thành hành động phát triển, đó chính là lúc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới bằng chính sức mạnh của mình.
Đại tá TRỊNH BÁ HƯNG, Chính ủy Lữ đoàn 84, Cục Tác chiến điện tử, Bộ Tổng Tham mưu