Cụ tên là Trần Đức Khôi, năm nay 93 tuổi. Trước khi nghỉ hưu, cụ Khôi đã có một nhiệm kỳ làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra thị ủy Thanh Hóa (nay là Thành ủy) và bốn nhiệm kỳ làm Phó chủ tịch UBND thị xã Thanh Hóa (nay là thành phố). Hai lần tôi đến thăm, đều thấy cụ ông, cụ bà ngồi uống trà và đọc báo cho nhau nghe. Trong phòng khách nhỏ của gia đình cụ Khôi, có hai bức ảnh được treo trang trọng giữa những tấm huân-huy chương, bằng khen, giấy khen của hai cụ. Đó là bức ảnh Ban chỉ huy Đại đội Xe đạp thồ Điện Biên và các trung đội trưởng, tiểu đội trưởng trong đại đội cùng bức ảnh các cá nhân tiêu biểu của đơn vị dân công xe đạp thồ hỏa tuyến của TP Thanh Hóa mang tên Điện Biên thời kháng chiến chống Mỹ cũng do cụ Trần Đức Khôi làm Chính trị viên.

Cụ Trần Đức Khôi kể:

- Đầu năm 1953, tôi đang làm cán bộ tổ chức của Thị ủy Thanh Hóa thì được điều đi làm chính trị viên một đại đội xe thồ phục vụ Mặt trận Tây Bắc. Đại đội của chúng tôi có hơn 100 người do anh Nguyễn Hổ làm Đại đội trưởng. Trong ban chỉ huy còn có một đại đội phó, một y tá và hai “công binh viên” chuyên sửa chữa xe, khâu lốp, vá săm, nghiên cứu cải tiến các phụ tùng trợ giúp xe mỗi khi lên dốc, xuống dốc... Chúng tôi tập trung lấy hàng ở xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân vào ngày 24-3-1954. Trước đó, chúng tôi được phổ biến Bộ Tổng tư lệnh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định “kéo pháo ra” để chuẩn bị chiến dịch kỹ hơn, phải chắc thắng mới đánh!

leftcenterrightdel
Chính trị viên Trần Đức Khôi (đứng thứ ba, từ phải sang) và các cán bộ chủ chốt đơn vị dân công xe đạp thồ tỉnh Thanh Hóa ở Mặt trận Điện Biên Phủ. Ảnh do nhân vật cung cấp

Ngày 13-3-1954, quân ta đã nổ súng mở màn đợt 1 Chiến dịch Điện Biên Phủ, tiêu diệt toàn bộ phân khu phía Bắc của tập đoàn cứ điểm gồm các đồi Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo... Tin vui làm nức lòng anh em dân công xe đạp thồ chúng tôi. Mọi người chỉ mong sao sớm nhận được gạo để kịp chở lên phục vụ mặt trận. Đọc báo thấy đăng lời của tên tướng Navarre nói rằng: “Việt Minh đưa lên đây 21 cân gạo thì ăn hết 20 cân” có anh dân công đã vận luôn thành ca dao: Đồ mày mũi lõ, tóc hung/ Biết đâu được mẹo các ông mà lần/ Đồ mày mũi lõ tóc quăn/ Việt Minh diệu kế như thần, chờ xem...

Lúc này, đại đội xe đạp thồ của chúng tôi quân số tròn 100 người. Lúc đầu nhận hàng, mỗi người đóng hai bì gạo, mỗi bì 50 cân. Chúng tôi xuất phát từ kho hàng Xuân Lập ở huyện Thọ Xuân, ngược hướng tây, tiến lên Ngọc Lặc, từ đó đi qua Cẩm Thủy, Bá Thước, Quan Hóa... rồi sang đất Hòa Bình để hành quân lên Điện Biên. Nếu đi theo đường 15 rồi sang đường 41 thì khoảng cách hơn 300 cây số. Nhưng để tránh máy bay Pháp và các bến đò phà sông lớn, chúng tôi đi theo đường dã chiến mới mở. Theo lộ trình này, khoảng cách sẽ là 500 cây số. Đội hình hành quân theo hàng dọc, giữa các trung đội có khoảng cách ngắn. Đại đội trưởng đi đầu mở đường, đại đội phó đi giữa đốc chiến, còn chính trị viên cùng y tá và hai công binh đi sau cùng.

Những ngày đầu anh em rất háo hức, nhưng càng lên miền Tây đường càng gập ghềnh khó đi. Rét và mưa cuối Giêng ở miền rừng Tây Bắc lạnh đến khủng khiếp. Muỗi mòng như ong vỡ tổ, vắt bắn tí tách như nứa lép nổ... Có lúc trong đại đội hơn chục người bị ốm. Song, cả đại đội đã đưa ra một quyết tâm: Tất cả vì mặt trận, người khỏe kèm người yếu, thực hiện không để rơi một hạt gạo, không để rớt lại một dân công. Chính nhờ tình cảm đùm bọc nhau như anh em trong nhà nên toàn đại đội đã mau chóng lấy lại được ý chí và sức khỏe. Nhất là khi Báo Quân đội nhân dân xuất bản tại tiền phương đăng tin anh dân công Mai Văn Thắng, quê ở Phú Thọ, đã lập kỷ lục chở 352 cân hàng; rồi tin các dân công Bùi Văn Tín, Đào Đức Tỵ, Nguyễn Văn Ngọc... ở Thanh Hóa chở hơn 320 cân hàng... thì toàn đại đội đã phấn đấu nâng mức bình quân từ 100 cân lên 120 cân, rồi 160 cân và có người đạt tới 200 cân…

Chở nặng, đường xấu, xe đạp bắt đầu bị nổ săm, xé lốp, gãy càng trước. Hai “công binh viên” vá chữa hết công suất vẫn không thể khắc phục được. Anh em nảy ra sáng kiến: Xé áo may ô, viền chăn chiên ra quấn quanh săm trước khi cho vào lốp bơm hơi. Sáng kiến này có tác dụng ít nhiều nhưng khi muốn nâng năng suất chở lên cao hơn nữa thì vẫn bị nổ săm, xé lốp. Lại thêm những sáng kiến mới: Những chiếc lốp cũ được cắt hai bên “tanh” để độn vào hai bên lốp chính, như vậy lốp xe đạp sẽ có bốn lớp ôm vào vành xe... Khi cả đại đội hành quân sang đất Hòa Bình thì chẳng ai còn cái áo may ô nào nữa. Chăn chiên thì cứ ba người chỉ còn hai chiếc mà cả hai chiếc đó đều bị xé cả bốn phía viền để dùng quấn săm. Tôi nghĩ, các từ “tay ngai”, “cọc thồ” của chiếc xe đạp có lẽ đã ra đời trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, bởi trước đó không thấy ai nói đến hai từ này. “Tay ngai” là đoạn trúc già chắc, dài khoảng 80cm, được buộc chặt vào đầu ghi đông bên trái. “Cọc thồ” là đoạn tre già, đường kính như cán thuổng, dài khoảng 1m buộc vào gióng dọc nghiêng qua yên xe, nhô lên trên 50cm để mỗi khi lên dốc, xuống dốc... thì dân công tì vai vào đó mà đẩy hoặc kéo ghì ngược trở lại để giảm tốc độ...

Chúng tôi cứ ngày đi đêm nghỉ. Hôm nào trời có trăng tạnh ráo hoặc lợi dụng ánh sáng pháo dù cầm canh của địch thì tranh thủ hành quân. Những đêm mưa rét không ngủ được thì tụm lại đốt lửa, căng vải mưa hoặc hái lá rừng làm mái che. Những lúc ấy, mấy cây văn nghệ trong đại đội lại thay nhau ngâm thơ. Chỉ có mấy bài tủ thôi, như: “Đêm nay Bác không ngủ”, “Đồng chí”, “Bầm ơi”… Có lần ngâm bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ”, đến đoạn: Bác thương đoàn dân công/ Đêm nay ngủ ngoài rừng/ Rải lá cây làm chiếu/ Manh áo phủ làm chăn... thì nhiều dân công đã bật khóc. Đúng là chúng tôi đã trải qua những cảnh ấy, nhưng nhờ toàn là sức trai trẻ, lại thấu hiểu nhiệm vụ vinh quang của mình nên dù không được ngủ, dù rét, dù mưa… ngày hôm sau vẫn bám đường và đi đến đích đúng theo kế hoạch. Vui nhất là những lúc gặp dân công nữ. Lúc ấy lại hò hát giao lưu, hỏi thăm quê quán, trêu đùa nhau quên hết cả mệt nhọc. Nhiều cô dân công trẻ đẹp mà hò hát hay lắm.

Tôi góp vui với cụ Trần Đức Khôi bằng câu chuyện của cụ Đào Đức Tỵ, một trong ba kiện tướng xe đạp thồ nổi tiếng của Thanh Hóa hồi đó mà tôi được nghe chính cụ Tỵ kể lại: Hôm đó, đại đội của cụ Tỵ vừa đi qua một con suối lớn, đang dừng nghỉ thổi cơm trưa thì có hai dân công nữ trẻ xinh đẹp đột ngột xuất hiện. Cả đại đội mừng cuống lên vì đã lâu không được thấy bóng dân công nữ. Khách đến là tiểu đoàn trưởng và đại đội trưởng của một đơn vị dân công nữ. Mặc dù chức vụ to thế nhưng hai cô mới chỉ ngoài 20 tuổi. Đại đội trưởng và chính trị viên đơn vị đang định mở tiệc cơm nếp, cá khô khoản đãi khách quý thì khách quý đưa ra yêu cầu giúp đỡ: Đơn vị của các cô do có một sếp hăng hái xin cấp trên giao thêm nhiệm vụ cho mỗi người là 3kg gạo. Vì phải gánh nặng thêm, lại gặp thời tiết xấu, chị em lăn ra ốm, đơn vị phải tạm dừng chân để tìm hướng khắc phục. Trong khó khăn đó, nữ tiểu đoàn trưởng nghĩ ngay đến các anh dân công xe đạp thồ và băng rừng tìm đến xin cứu giúp. Không giúp thì không đáng mặt nam nhi và tình đồng đội dân công, nhưng giúp thì ai sẽ chở xe thồ gạo lên mặt trận, rồi còn kỷ luật hành quân, công tác bảo mật nội bộ đơn vị nữa. Bàn một lúc, chỉ huy đơn vị xe đạp thồ quyết định giúp và nếu xảy ra chuyện gì sẽ xin cấp trên “ân xá” sau. Mười xe thồ gạo được dồn thêm cho các xe khác để quay lại giúp đơn vị dân công nữ gấp. Lãnh đạo Liên đoàn dân công biết được chuyện trên, định kỷ luật cả đơn vị đi giúp lẫn đơn vị được giúp, nhưng Thủ trưởng Tổng cục Cung cấp sau khi nghe báo cáo đã “thể tất” và còn gửi lời khen...

Nghe tôi nhắc lại câu chuyện ấy, cụ Trần Đức Khôi nói:

- Ngày đó, nếu có gặp trường hợp như thế thì anh em chúng tôi cũng sẽ giúp đỡ như đơn vị của anh Tỵ. Tin tức thắng trận ở Điện Biên Phủ cứ dội đến từng ngày. Ai cũng mau chóng để đến được gần mặt trận hơn. Ngày 3-5-1954, đại đội xe đạp thồ chúng tôi được Tổng cục Cung cấp tuyên dương là đơn vị khá nhất!

Nói rồi cụ Khôi tìm tư liệu, đưa cho tôi xem các bài báo, các bức ảnh về những cá nhân tiêu biểu; bằng khen, giấy khen của Tổng cục Cung cấp, của tỉnh Thanh Hóa... ghi nhận thành tích của cả đại đội.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lực lượng dân công xe đạp thồ Điện Biên Phủ của tỉnh Thanh Hóa lại được huy động để phục vụ hỏa tuyến Khu 4. Hồi đó đang là Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính thị xã Thanh Hóa, cụ Trần Đức Khôi được điều đi làm chính trị viên một đơn vị dân công hỏa tuyến, cũng là dạng dân công xe đạp thồ. Đơn vị của cụ Khôi được cắm chốt chở hàng ở vùng Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Con đường đi lại của đơn vị là hơn 10 cây số đường rừng có mấy chốt trọng điểm. Tinh thần Điện Biên Phủ lại một lần nữa được thổi bùng trong ý chí quyết thắng của dân công xe đạp thồ thị xã Thanh Hóa. Có nhiều kiện tướng đã chở đến 400 cân mỗi chuyến. Đặc biệt, dân công tên Dũng có chuyến chở đến 680 cân. Những thành tích này đã được ghi nhận bằng các văn bản của Ủy ban Hành chính huyện Cẩm Xuyên mà cụ Trần Đức Khôi còn giữ được. Theo cụ, đơn vị có được thành tích vượt bậc ấy là do sử dụng các kinh nghiệm hồi đi Chiến dịch Điện Biên Phủ, là ý chí và niềm tự hào được mang tên đoàn dân công lịch sử năm xưa.

Trong câu chuyện ký ức xe thồ, cụ Trần Đức Khôi nhiều lần nhắc về ba kiện tướng nổi tiếng của tỉnh Thanh Hóa thời Điện Biên Phủ là các cụ: Bùi Văn Tín, Đào Đức Tỵ và Nguyễn Văn Ngọc. Ba kiện tướng này đã được Bác Hồ thưởng Huy hiệu của Người, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Chiếc xe thồ của cụ Bùi Văn Tín hiện được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Hà Nội). Cụ Khôi cứ tiếc rằng: Giá các cụ ấy còn sống thì sẽ kể được nhiều chuyện hay hơn nữa. Rồi cụ nói thêm: “Ở Thanh Hóa vẫn còn một số cựu chiến sĩ “Binh đoàn ngựa sắt” thời Điện Biên Phủ, nếu nhà văn có điều kiện thì nên gặp hỏi thêm chuyện của họ...”.

Tôi vâng lời cụ và tự hứa sẽ cố thu xếp để được hầu chuyện những nhân chứng lịch sử hiếm hoi ấy, bởi chiến thắng Điện Biên Phủ đã lùi xa 65 năm rồi...

Bút ký của LÊ NGỌC MINH