Khi chiếc ô tô con qua khỏi cầu dây văng thì trời đã quá trưa. Lẫm nhìn đồng hồ, hơn 5 tiếng kể từ lúc xuất phát hồi sáng sớm. Anh quay sang già Bảy Thêm đang bắt chéo chân, hai tay đặt lên gối, còn mắt thì mông lung nhìn ra xa xăm bờ bãi, khẽ giọng: “Coi vậy mà cũng xa quá chừng, nội à!”.
Người tài xế đang véo von một bài hát về miền châu thổ bỗng im bặt, xong bảo: “Cũng sắp tới rồi đó chú em!”.
Mỗi năm một lần, già Bảy Thêm, ông nội Lẫm-lại đi một chuyến về xứ phù sa. Từ miền đất đỏ bạt ngàn cao su xa xôi, đến nơi cũng mất nửa ngày di chuyển. Bây giờ đường sá thông thoáng, phương tiện đi lại dập dìu còn dễ, chứ chừng vài chục năm trước thuở còn cách sông lụy phà, xe đò thưa thớt lại hay gặp nạn giữa đường san sớt, nhiều khi đi từ lúc trời vừa rạng tận nửa đêm mới đến nơi. Nhưng dẫu cho đường xa cách trở hay bận bịu đến đâu, đúng hẹn là già Bảy Thêm đều cố gắng thu xếp để về rẻo đất nhỏ bên dòng Cổ Chiên như mặc định.
Chừng này châu thổ đang mùa nắng hạn với những con nắng vàng giòn như mật. Không khí oi nồng ngột ngạt ở khu dân cư đông đúc nhiều xe cộ qua lại dần trở nên dễ chịu một chút khi vào đường huyện dọc triền sông thông thoáng bạt ngàn cây ăn quả của vùng đất trù phú mà nhìn trên bản đồ gần như là trái tim của xứ Cửu Long. Lẫm hạ kính xe, thích thú nhìn hàng nối hàng cây lành quả ngọt tốt tươi. Xa xa những lò gạch đứng thâm nghiêm, trầm mặc tựu lại dọc bờ kênh như một vương quốc cổ xưa nào đó.
Lần đầu tiên Lẫm được tháp tùng ông nội về đây. Vừa để dọc đường chăm sóc khi già Bảy Thêm giờ đã sức yếu do tuổi cao, vừa như một chuyến đổi gió tận hưởng những ngày thư thả cuối cùng trước khi ra nước ngoài du học.
Đưa máy điện thoại lên ghi lại vài cảnh sắc, Lẫm cười: “Ở đây ngộ quá hen nội, làm gạch thủ công lại có hẳn một làng”.
Già Bảy Thêm không đáp, chỉ gật gù. Chợt như nhớ ra điều gì, ông lẩm bẩm một mình: “Nhà anh ấy hồi xa xưa cũng làm gạch”.
*
Bảy Thêm gặp Hai Lực vào những tháng ngày hai chàng trai đang ở tuổi đời đẹp nhất. Nhưng đồng thời cũng là khoảng thời gian đạn pháo ngày càng ác liệt, thương vong mỗi ngày một nhiều. Ngày Hai Lực được bổ sung vào đơn vị, Bảy Thêm cứ phải mắc nhìn cái thân hình nhỏ nhắn bé choắt của người đồng đội mới. Da dẻ anh đen nhẻm nhưng có vẻ nhanh nhẹn, hàm răng trắng đều tăm tắp rất hay cười, đặc biệt nhất là đôi mắt sáng quắc như sao giữa trời đêm. Nhớ có một lần đơn vị phải hành quân bí mật vào buổi khuya giữa đồng nước mênh mang, chính Hai Lực đã dẫn tiểu đoàn an toàn về nơi trú ẩn. Chính anh cũng là người đưa sáng kiến dùng những tàu chuối khô nối lại thành sợi dây dài để mọi người nắm lấy tránh thất lạc giữa đường.
Những lúc ít ỏi được ngơi nghỉ trước khi bước vào trận đánh tiếp theo, khi đồng đội nhắc lại cái đêm băng đồng mùa nước nổi, Hai Lực lại cười giòn, giọng xởi lởi: “Hổng ai thuộc nước như tụi em đâu”.
Xưng là em vì Hai Lực ém tuổi, vào lính sớm một năm. Sau này khi thân nhau, Hai Lực vẫn thường kể cho Bảy Thêm nghe về cái xóm lò gạch bên dòng Cổ Chiên nơi gia đình anh cũng có hai lò lớn đêm ngày đỏ lửa.
“Nhà em làm nào là gạch nung, nào là ngói đỏ, đủ hết. Để chừng nào hòa bình anh Bảy về quê em một chuyến, mình chạy ghe dọc kênh Thầy Cai chạy thẳng ra sông Tiền. Mà có khi mình đi luôn từ Bắc chí Nam thăm thú nước non nhà cho biết”.
Hai Lực lúc nào cũng lạc quan như vậy. Nói chuyện với đồng đội trong đơn vị bao giờ anh cũng vui cười. Anh kể mãi không hết chuyện về vùng đất nơi anh sinh ra bằng niềm say mê, với lòng mến yêu mãnh liệt. Vì thân hơn hẳn nên đôi lần Bảy Thêm còn được nghe Hai Lực kể về người con gái mà anh thầm thương trộm nhớ, cả hai cùng ước hẹn ngày quê hương im tiếng súng Hai Lực sẽ mang trầu cau qua nhà xin cưới nàng.
Bảy Thêm vốn là người kiệm lời, nhưng dần dà không thể không mở lòng trước người đồng đội trẻ, cương trực và gan dạ nhưng cũng rất hồn nhiên. Anh cũng bắt đầu kể về bản thân, về miền đất đỏ với những cánh rừng cao su dẫu bị thuốc hóa học và đạn bom tàn phá nhưng vẫn được trồng lên hết lớp này tới lớp khác. Những đêm hiếm hoi đất trời yên tĩnh không rào rào pháo sáng và đạn bom đùng chéo, tạm quên mất mát mỗi ngày khi chứng kiến những người đồng đội lần lượt ngã xuống, hai chàng thanh niên lại động viên nhau bằng cái mơ ước sẽ đến thăm quê hương của người kia khi hòa bình về.
Ấy rồi trong một trận dính phục kích, Bảy Thêm bị trọng thương. Một bên chân trúng đạn gần như bất động. Cả một tiểu đội đi trước mở đường không còn một ai. Bảy Thêm cũng tưởng đâu mình đã bỏ mạng thì bỗng giữa cảnh màn trời chiếu đất đen ngòm khói và thuốc súng, Hai Lực nhanh như một con chim cắt dùng hết sức lực kéo lê đồng đội vào bụi rậm, xé toạc ống quần để tạm cầm máu vết thương. Giọng Bảy Thêm thều thào: “Chú đừng lo cho anh, anh biết mình bây giờ dữ nhiều lành ít”.
Không nói không rằng, Hai Lực xốc Bảy Thêm lên vai. Suốt những năm tháng về sau, Bảy Thêm không bao giờ có thể quên cái đêm định mệnh đó. Không hiểu Hai Lực đã lấy ở đâu sức mạnh để tha cái cơ thể thương tật của người đồng đội lớn tướng hơn mình. Đồng đất mênh mông, không biết họ đã đi trong bao lâu. Nửa đêm thì cả hai đến được trạm phẫu. Bảy Thêm được gấp rút cấp cứu. Thời gian như ngừng trôi và hệt như bị nén lại. Suốt ba tiếng đồng hồ trên bàn mổ, cuối cùng toàn đội ngũ mới có thể thở phào. Bác sĩ bảo chỉ chậm một chút nữa e là không giữ được tính mạng.
Bảy Thêm sau đó cũng hồi phục và trở về đơn vị. Bao giờ nhắc lại cái đêm chạy đua với thần chết, Bảy Thêm cũng vỗ vai Hai Lực xúc động: “Chú mày không chỉ là đồng đội mà còn là ân nhân của anh”. Hai chàng trai lặp lại lời hẹn mai này đất nước trọn niềm vui phải cùng ngồi lai rai tâm tình với nhau một bữa cho thỏa.
*
“Nhưng sự đời nào có được như ý người muốn, con à!”.
Già Bảy Thêm run run, giây phút hồi tưởng kỷ niệm xa xôi khiến ông rưng rưng, kéo vạt áo màu cỏ úa lên chặm nước mắt. Lẫm cầm tay ông nội vẫn chưa thôi xúc động, dẫn ông đến lối vào nghĩa trang. Một cơn mưa rào trái mùa vừa mới qua đây khiến cây lá chừng như xanh hơn nhưng không làm nguội bớt mùi hương khói của những đoàn về nguồn dập dìu ghé lại.
Già Bảy Thêm kể rằng ông và người đồng đội đã cùng đi qua không biết bao nhiêu trận chiến sinh tử. Cả hai coi nhau như anh em một nhà. Hột muối bẻ đôi, chia nhau từng nắm gạo rang khi đói. Nhưng chiến tranh mà, đâu ai biết trước hay biết chắc một điều gì.
Và đó là trận đánh từ cánh Tây Nam mở đường vào cây xăng Nhà Bè. Giữa làn pháo đạn mù trời, nhiều đồng đội trong đơn vị hy sinh, Hai Lực cũng nằm trong số những người ngã xuống giữa trận địa. Chiếc khăn thêu đôi chim xanh quấn quýt lấy nhau mà cô thôn nữ nơi quê nhà thêu tặng ướt đầm máu đỏ được trao tay Bảy Thêm với lời nhắn gửi chàng lính xưa không thể vẹn câu thề.
Ngày im tiếng súng, việc đầu tiên sau xuất ngũ là Bảy Thêm tìm về xóm lò gạch bên dòng Cổ Chiên. Chính Bảy Thêm cũng là người về sau đưa hài cốt của Hai Lực từ nơi anh nằm xuống bên bờ sông Vàm Cỏ Tây về nghĩa trang liệt sĩ quê nhà an nghỉ.
“Chú ấy hy sinh trước hòa bình có mười ngày, con à!”- Niềm tiếc thương vô hạn như vẫn nguyên vẹn hằn sâu trong đôi mắt người cựu chiến binh già sau ngần ấy năm. Tình đồng đội vẫn luôn là thứ tình cảm thật đặc biệt. Không biết có phải khói nhang mà mắt Lẫm cũng cay cay.
Già Bảy Thêm chỉnh trang lại bộ quân phục cũ bạc màu, chậm rãi đi về phía cuối hàng xa xa. Lẫm hơi lùi lại như để chừa cho người già một khoảng riêng tư để hoài niệm về một con người thời quá vãng. Hơn nửa thế kỷ vùn vụt trôi như cái chớp mắt.
Trên mấy cây xà cừ cổ thụ, những con sóc nhỏ nghiêng đầu ngó quanh. Một làn gió quét qua khiến những chiếc lá già cỗi buông mình rơi xuống. Trên cao, hàng vạn lá xanh vẫn rung rinh đón chút nắng xế chiều vừa hé sau đám mưa bóng mây. Đứng trước bia đá in tên, già Bảy Thêm vừa như nhắc nhớ cái nghĩa cái ơn, vừa như răn dạy đứa cháu trai nhỏ nhất trong đàn sắp bước vào đời.
“Không có ông Hai đây thì đã không có ông và cũng không có con bây giờ, Lẫm à!”.
Đánh chiếc bật lửa, Lẫm đốt những que nhang. Mùi khói hương bay lên nồng đượm. Già Bảy Thêm đưa lên giữa trán khấn rồi cắm xuống trước mộ, không quên vài chung rượu gạo tưới xuống như đang đối ẩm sum vầy. Ngồi bên bia mộ, già Bảy Thêm lấy từ túi áo một tấm ảnh nhỏ đen trắng được ép giữ cẩn thận trong túi ni lông. Một người trai với đôi mắt sáng nhìn Lẫm có nét duyên ngầm thật dễ mến. Già Bảy Thêm bảo: “Ông Hai đấy con. Phải rồi, trẻ lắm con ơi, ngày hy sinh ảnh còn chưa đầy hai mươi tuổi”.
    |
 |
| Tác giả Hồ Thị Linh Xuân. |
| Truyện đưa người đọc về với miền sông nước Cửu Long qua giọng kể nhẹ nhàng, giàu chất thơ, mộc mạc mà đậm chất con người và cảnh sắc miền Tây Nam Bộ, vừa chân thực vừa gần gũi đến từng chi tiết. Qua câu chuyện kể của người ông và sự trân trọng biết ơn của người cháu, hình ảnh liệt sĩ Hai Lực hiện ra với phẩm chất anh dũng, kiên cường; mang lại cho người đọc những cảm nhận sâu sắc về những hy sinh và tình đồng đội cao cả trong chiến tranh. (Nhà văn BÙI VIỆT PHƯƠNG) |
Truyện ngắn của HỒ THỊ LINH XUÂN