Tiến để ý đến Vân từ ngày đi dẫn đoàn người về lán. Cái dáng người nhỏ bé, mỏng manh của Vân khiến Tiến nghĩ chắc cô sẽ không chịu được khí hậu của đỉnh K’Xôn mất. Sự quan tâm ban đầu như một người anh trai dần biến thành tình thương, rồi yêu lúc nào không hay, bởi trái với vẻ ngoài mỏng manh yếu đuối, Vân chưa một lần tỏ ra buồn bã, nhớ nhà hay chán, sợ việc chăm sóc thương binh. Mặc cho trước đây cô từng là tiểu thư đài các, nhưng nay đi vào cuộc chiến này, một tay Vân có thể cáng đáng hàng chục thương, bệnh binh, không quay đầu cắn môi trước cảnh máu, mủ mỗi khi phẫu thuật.
Những giờ phút bên nhau trong hoàn cảnh ấy quý giá biết chừng nào. Cả Vân và Tiến đều hiểu điều ấy. Đơn vị quân y cũng thương, cũng vun vào, bởi chẳng ai dám chắc ngày mai còn được thấy nhau giữa bom đạn. Thế rồi một đám cưới nhỏ diễn ra nơi trạm xá, giản dị mà ấm áp. Đồng đội đứng quanh, ánh mắt rạng rỡ niềm vui hiếm hoi giữa ngày máu lửa.
Bé Quyên ra đời, như lẽ tự nhiên của yêu thương. Giữa thiếu thốn trăm bề, con trở thành niềm vui chung của cả bệnh xá; ai cũng bế bồng, cũng cưng nựng, đến cả người dân quanh K’Xôn đến khám bệnh cũng gọi con bằng cái tên của núi, nghe mà ấm lòng. Hạnh phúc ấy chưa được bao lâu thì Tiến nhận lệnh rời khu, ra miền Bắc học bác sĩ.
Gần Tết, được nhận lệnh đi lấy gạo và nhu yếu phẩm, Vân vẫn mặc định đây chỉ là một buổi đi lấy gạo như mọi lần, nên mặc cho bé Quyên quấy khóc, Vân vẫn cười gửi chị Lụa ở lại trực ban. Đi đường rừng, chẳng ai dại gì mang theo con nhỏ. Cùng lắm chỉ mất hai ngày là mẹ về thôi. Vậy mà sau chuyến đi hai ngày, bệnh xá chỉ còn trơ nền đất. Vân lao vào nền nhà cháy đen trơ trụi, dẫu biết là không còn gì mà đôi tay vẫn không ngừng đào bới, nước mắt chảy dài mà không thể cất ra tiếng khóc. Trái tim cô bị bóp chặt, đau đớn tức tối như muốn phá bung lồng ngực ra để đập cho thỏa. Cô gục xuống mê man gọi "con ơi".
Vân sốt liên tục ba ngày, lên cơn mê sảng và co giật khiến mọi người hoảng sợ, tưởng cô không qua khỏi. Nhưng rồi cái tin bé Quyên, chị Lụa còn sống được truyền đến một cách khó ngờ.
Những lời kêu gọi ra rả của chiếc máy bay rải truyền đơn vang vang bên tai Vân:
- Bé Quyên khỏe nhưng nhớ mẹ nên khóc sưng mắt, cô Lụa bị thương, không ai chăm nom bé Quyên. Mẹ hãy trở về với chính phủ quốc gia để chăm sóc con...
Địch dùng bé Quyên như một cái cớ để chiêu hàng, gây hoang mang. Vân thắt ruột, nước mắt chảy vào trong, thầm khấn, còn sống là tốt rồi, chỉ cần con còn sống, nhất định sẽ có ngày mẹ tìm được con. Chỉ cần con còn sống thôi.
Ngày bận rộn thì có thể quên đi được những nhớ thương, chỉ có đêm xuống, những lúc rỗi việc, đôi bàn tay Vân lại lục tìm vào túi áo phải, trong đó là chiếc áo nhỏ của con. Hơi của bé Quyên làm gì còn chút nào ở đó, chỉ còn hơi của Vân, của thuốc sát trùng nồng nồng khó chịu. Nhưng chỉ có cái áo và tấm ảnh được cắt ra từ tờ truyền đơn mới có thể an ủi được Vân, làm cô dịu đi trong những giấc ngủ nông choèn đầy mộng mị.
Những giấc mơ về đỉnh K’Xôn cứ bám lấy chân Vân, dìm cô vào trong tiếng khóc của bé Quyên. Đôi tay nhỏ của con chìa về phía cô như cầu cứu, những tiếng la hét, dãy nhà công vụ bùng lửa đỏ, những tràng liên thanh bắn lên trời khô khốc. Chiến tranh mà. Ai cũng nói như vậy. Đau thương khắp nơi là chuyện thường rồi, nhà cháy thì dựng lại nhà, dẫu có bị tàn phá đến đâu thì những cánh rừng vẫn hồi sinh đấy thôi. Nhưng con người còn sống với những thương tật, với những nỗi đau, với cả niềm mong nhớ mỏng manh như sương khói đó thì biết làm sao đây?
Tiến về, nhìn Vân rạc người mà chẳng thể nói được lời nào. Cái vòng tay như thấy chừa ra một khoảng trống không thể lấp đầy, nước mắt cả hai chảy ngược vào trong. Tiến thầm thì khe khẽ, con còn sống là được rồi, chỉ cần con còn sống là anh sẽ tìm con về cho em.
Rồi hòa bình, cả Tiến và Vân đều được phân về trạm xá Nghĩa Bình, những nhọc nhằn, loạn lạc của ngày đầu kiến thiết cũng chẳng thể khiến hai người quên con, mà ngược lại ngày càng thêm nhớ. Tiến giấu Vân nhờ bạn bè trong đơn vị, tìm thông tin của bé Quyên khắp nơi. Biết được cùng với lần rút chạy trước giải phóng, toàn bộ viện mồ côi mà bé Quyên bị địch gửi vào đó đã được chuyển vào Sài Gòn, rồi từ đó mất dấu, nhưng Tiến vẫn âm thầm đi tìm. Bao lần hy vọng, rồi thất vọng não nề, đến Tiến còn muốn ngã gục chứ nói gì Vân.
Những ngày vẫn trôi qua. Như mây chiều. Như sương sớm. Nhớ thương, day dứt, ám ảnh như mây trắng trên đỉnh K’Xôn cứ vấn vít không rời. Chiến tranh đã qua, nhưng những ám ảnh về nó vẫn còn, những người mất con, lạc con trong cuộc chạy càn, những tin tức rời rạc khiến người ta đau đáu. Vân nhìn người mẹ trẻ dắt theo đứa con trạc tuổi Quyên vào dãy nhà tạm giam của công an tỉnh để thăm chồng mà thắt lòng, người bố vừa mất trong đợt chuyển trại hôm trước. Chỉ còn hai mẹ con, đang định ra về thì người mẹ lên cơn chuyển dạ, chẳng có ai thân thuộc mà nhờ vả. Mẹ chuyển vào phòng sinh gấp, mặc cho bé con tên Na chẳng biết làm gì ngoài việc chạy theo rồi thơ thẩn ngồi đợi mẹ. Đôi mắt lay láy nước nhìn Vân đầy tin cậy, cái đôi mắt làm cô nhói lòng vì nhớ con.
Không qua khỏi. Cả kíp đỡ đẻ của Vân bàng hoàng, cái thai ngược, mẹ lại có bệnh nền. Trạm xá nhỏ, thiếu thốn đủ đường, sức khỏe người mẹ quá yếu, chị bị băng huyết, trụy tim, cả hai mẹ con đều không cứu được. Tiến nghe tin về ca đẻ thất bại đã vội chạy đi tìm Vân. Nhìn sâu vào mắt anh, cô nói ra quyết định của mình: "Nhận con về đi anh".
Bé Na về, ngôi nhà nhỏ ở ngoại ô của Vân càng thêm ấm cúng, rồi bé Quang và Quân ra đời, nhịp sống lại nối tiếp trên cao nguyên, hòa vào quá trình tái thiết đất nước. Những bình lặng đã trở về, ít nhất những người tiếp xúc với y tá Vân đều nghĩ vậy khi nhìn vào những nhiệt tình với công việc của cô. Nhưng chỉ có Vân mới có thể biết được, làm sao có thể quên được khúc ruột mình dứt ra trên đỉnh K’Xôn heo hút đó; bom đạn rền vang đều không thể che lấp nụ cười của con; khổ sở, mệt nhọc nào cũng sẽ bay biến khi nhìn thấy đôi tay bé xíu của con chìa về phía mẹ. Những ngày đã qua đó là máu thịt, là nỗi đau không thể nào nguôi. Chỉ cần còn một chút tin tức, còn một chút hy vọng thì Vân vẫn sẽ cố gắng bám lấy. Nhưng Vân cũng chỉ dám làm âm thầm, Vân không dám để Tiến cùng gia đình nhỏ của mình biết, vì chính Tiến cũng đã tự trách mình nhiều hơn cả cô, chưa kể, cô không dám khuấy động đến những bình lặng của ba đứa trẻ còn lại đang đắm chìm.
Hơn ba mươi năm bà Vân sống với những giấc mơ đỏ lửa, luôn cảm thấy như con gái nhỏ đang gọi tìm mình. Bà chẳng thể giấu được nỗi khắc khoải của mình khi đã về hưu, bởi mỗi lần đưa nhát chổi quét sân, bà lại thầm nghĩ đến câu lá rụng về cội. Na đã trở thành một nữ điều dưỡng và đang hạnh phúc với tổ ấm nhỏ của mình. Hai đứa con trai lớn đều học và làm trong thành phố. Ông Tiến vẫn còn một năm nữa mới nghỉ hưu, chỉ còn bà vẩn vơ với nỗi nhớ. Chiếc áo cũ của con vẫn còn cất giữ, bà bần thần, cuộc điện thoại từ chương trình “Tìm kiếm ký ức” vừa gọi bà. Cái chương trình tìm kiếm người thân mà bà đã đăng ký từ hơn ba năm trước, tưởng chừng hồ sơ của bà cũng nằm trong im lặng như hàng ngàn cuộc tìm kiếm vô vọng khác, nhưng hôm nay nó thắp lên cho bà một niềm tin le lói.
Và hôm nay, bà khoác bộ quân phục lên người, phập phồng đến trường quay chương trình. Bà không dám hy vọng, bà biết thất vọng sẽ đẩy bà và ông vào sâu trong cô độc với những đoạn ký ức chiến tranh rời rạc đau thương, nhưng lại cũng chập chờn hy vọng. Đã có biết bao gia đình kết nối, tìm được người thân của mình rồi, liệu bà có thể tìm lại đứa con gái nhỏ của mình không? Những lời nói rành rọt của người dẫn chương trình như nhắc lại những tháng ngày tuổi trẻ trên đỉnh K’Xôn, nơi đó, có một người thương binh trong quá trình điều trị đã biết rõ hoàn cảnh của bà, đã được bà cho xem đi xem lại biết bao lần cái tấm ảnh và thông tin của cô con gái nhỏ. Đến ngày người thương binh rời đi, vẫn đinh ninh lời kể của bà, tưởng chừng như người thương binh cũng có cùng nỗi mất mát đó, để khi vô tình nhìn thấy thông tin của cô con gái được nhận nuôi ở nước ngoài về tìm cha mẹ, anh đã tự liên hệ chương trình để cung cấp thêm tin tức.
Cổ tích rồi sẽ thành sự thật. Ánh sáng chiếu qua cánh cửa nhỏ, ấm áp như hơi tay đứa trẻ ngày xưa. Bà bước tới, tim đập nhịp mong đợi, bàn tay run khẽ chạm chiếc áo bé Quyên để lại. Không biết phía sau là gương mặt thân quen hay chỉ là hy vọng, nhưng lần đầu sau ba mươi năm, bà thấy lòng nhẹ như mây trắng trên đỉnh K’Xôn. Tin vào cổ tích!
    |
 |
| Tác giả Dương Thị Kim Ánh. |
| Tin vào cổ tích là một câu chuyện xúc động, nhắc nhở chúng ta rằng mỗi sự bình yên hôm nay đều được xây đắp từ những hy sinh và niềm tin không mệt mỏi của thế hệ đi trước. Đúng như nhan đề, tác phẩm gửi gắm thông điệp mạnh mẽ về sức mạnh của niềm tin. Cổ tích trong đời thực không phải phép màu tự nhiên đến, mà được dệt nên từ sự tử tế của con người và sự bền bỉ của tình thân. Truyện cũng khẳng định: Chiến tranh có thể tàn phá hình hài, chia cắt máu mủ, nhưng không thể tiêu diệt được hy vọng. Chỉ cần con người còn giữ lửa yêu thương, công lý và sự đoàn tụ sẽ hồi sinh trên những vùng đất đau thương nhất. (Nhà văn VÕ THỊ XUÂN HÀ) |
Truyện ngắn của DƯƠNG THỊ KIM ÁNH