Trong gian bếp nhỏ, bà nội đang lúi húi cời lửa. Đám rơm rạ mục ải lưu cữu từ vụ trước sậm sụi khó bén, mùi khói cay nồng, nghèn nghẹn. Mẹ tôi khẽ cất lời chào bà. Bà đáp nhẹ thênh: “Mẹ cái Nhân đã về đấy à?”, rồi lại cúi xuống cời lửa, bình thản như thể sự trở về này chẳng khiến bà ngạc nhiên. Bấy lâu nay, bà chưa một lần nhắc đến mẹ trước mặt chị em tôi. Là bà giận mẹ hay bà sợ chúng tôi thêm tổn thương nên chẳng muốn khơi lên nỗi đau mà tất cả đều cố chôn giấu?

*

Bố tôi vốn người miền xuôi, công tác trong ngành lâm nghiệp nên lên vùng rừng núi này. Trong một trận lũ dữ dội tràn qua nhà, ông bà ngoại và cậu tôi bị cuốn theo dòng nước xiết. Bố tìm thấy mẹ tôi thoi thóp mắc lại trong đám rễ cây rừng bên một khe suối. Mẹ nhận lời làm vợ bố như một mối lương duyên, rồi không ở lại với bố mà về miền xuôi làm dâu, chăm sóc mẹ chồng. Là mẹ thương bà bấy lâu sống lủi thủi trong gian nhà hiu quạnh hay vì mẹ bị ám ảnh bởi những cơn mưa lũ vần vũ đại ngàn!?

Chưa bao giờ chị em tôi được lên thăm bố, cũng chưa từng được về thăm quê ngoại. Thỉnh thoảng, bố về thăm nhà được vài ngày, biếu bà nội những thang thuốc lá, còn quà cho ba mẹ con tôi thường là mấy chiếc khăn áo thổ cẩm. Mẹ mân mê từng đường thêu nét chỉ, bần thần, ngẩn ngơ.

Năm tôi học lớp tám thì nhà xảy ra biến cố. Đó là một buổi chiều cuối thu khô như rang. Khi tôi đi học về thì thấy sân nhà nhốn nháo, những gương mặt thảng thốt, lo âu vì một tin dữ: Bố bị bỏng nặng trong lúc cùng các chú, các bác và người dân chữa cháy rừng, hiện đang cấp cứu ở bệnh viện trên Hà Nội. Bà nội rền rĩ kêu trời, mẹ vừa khóc vừa nhét mấy bộ áo quần vào chiếc túi bạc phếch rồi tất tưởi lao ra khỏi nhà, chân đi như không bén đất. Tôi và em Hậu lóc nhóc chạy theo. Mẹ lên tới dốc đê thì một chiếc xe khách lọc xọc trờ tới. Mẹ líu ríu leo lên xe. Chiếc xe lắc lư lao vào chiều chạng vạng, nhả lại đụn khói xám xịt, nhòe đục.

Gần một tháng sau thì mẹ đưa bố về nhà. Tôi đứng nép bên hiên, kiễng chân lén nhìn qua khe cửa sổ, thấy bố lọt thỏm trong bộ quần áo, phần mặt và đầu vẫn còn băng. Tiếng bố ú ớ, tiếng mẹ thút thít cứa vào không gian lặng ngắt của gian nhà nhỏ. Vết bỏng nặng của bố nhiễm trùng vào máu, sự chăm sóc tận tuỵ của mẹ và số tiền bà bán mảnh vườn hương hỏa cũng chẳng cứu được bố. Chị em tôi đã đủ lớn để thấm thía nỗi đau mồ côi. Tóc bà nội bạc trắng, căn bệnh viêm khớp mãn tính khiến lưng bà còng hẳn xuống. Còn mẹ thì như một cái bóng lặng lẽ trong gian nhà nhỏ lặng ngắt. Vài lần, các bác đồng nghiệp cũ của bố về nhà tôi thăm. Bà nội lập cập, run run nói lời cảm ơn. Mẹ thẫn thờ rót nước trà tràn qua cả miệng chén, ánh mắt rưng rưng. Lần nào cũng vậy, họ đi khuất, mẹ mới lao vào buồng khóc.

Sau ngày giỗ đầu của bố, em Hậu đột nhiên bị viêm cơ tim cấp. Mẹ dốc hết số tiền dành dụm, vay mượn ngược xuôi mới đủ cho ca mổ của em. Chị em tôi e dè lớn lên trong những ngặt nghèo tằn tiện và những lời ong tiếng ve về cái tướng “sát phu” của mẹ. Đôi mắt đẹp rười rượi của mẹ cụp xuống u ám. Mấy lần tôi thấy bà nội nhỏ to với mẹ, giọng ngàn ngạt nước: “Con trai mẹ xấu số bạc mệnh, mẹ chẳng nên giữ con ở lại. Có đám nào tử tế ướm hỏi, con cứ thuận lòng...”. Khuyên nhủ không được, bà sinh ra dằn hắt cay nghiệt. Tôi hiểu đó là cái cớ để bà “đuổi khéo” mẹ đi bước nữa. Bà muốn mẹ tìm được những cơ hội mới, niềm vui, tương lai mới. 

leftcenterrightdel
 

Một buổi tối, lúc hai mẹ con tôi ngồi giặt quần áo ở sân giếng, mẹ nói bâng quơ rằng cô Nga mới mở thêm một tiệm uốn tóc và cần người phụ việc. Cô Nga là em họ của bố tôi. Cô đi Đức gần chục năm mới về. Thi thoảng cô về quê, váy hoa phấp phới lạc lõng giữa chân chất quê mùa. “Mẹ biết cô Nga mang tiếng như vậy mà sao mẹ vẫn muốn theo cô ấy đi?”. Giọng tôi đanh lại, dằn dỗi. Trong ánh điện đỏ quạch, tôi vẫn thấy được ánh nhìn vời vợi của mẹ, nghe được tiếng thở dài cố nén chìm lẫn trong tiếng xô chậu va nhau lách cách. Bóng mẹ hắt lên bờ giậu một hình thẫm tối, đơn độc.

Tôi chẳng biết mẹ có thể làm được việc gì ở tiệm tóc với bàn tay khô gầy, xương xẩu ấy, đôi bàn tay thô kệch khác hẳn với gương mặt thanh tú, mịn màng. Bà tôi từng bảo phụ nữ mặt đẹp, tay thô là số truân chuyên. Đêm ấy, tôi nằm nghe tiếng trở mình rất khẽ của mẹ. Trái tim đứa con gái mười sáu tuổi vẩn lên những nghi ngờ hờn lẫy. Ở gian ngoài, thi thoảng có tiếng bà nội rên rẩm, tiếng em Hậu ú ớ mê sảng, trong tôi lại cồn lên nỗi lo lắng bất an. Sáng hôm sau, tôi tỉnh dậy bởi tiếng khóc rấm rứt của em Hậu. Cánh tủ gỗ khép hờ hững, rỗng không, chẳng còn bóng dáng của mẹ. Ngoài hiên, bà nội ngồi bó gối, khuôn mặt u miên xa xăm.

Vậy là mẹ bỏ đi thật. Bao nhiêu câu hỏi cứ cuộn xoáy trong tôi. Mẹ bỏ đi vì không chịu được sự trái tính, hà khắc của bà nội hay vì những bất hạnh, cô độc đã hút rộc thanh xuân của mẹ? Mẹ nuôi mộng ảo về cuộc sống phồn hoa trong những lời hứa của cô Nga, hay mẹ muốn chạy trốn những đêm trăng thanh tiếng ngỗng ran ran ngoài bờ ao, có bóng người đàn ông thấp thoáng ẩn hiện sau vạt sáng lờ nhờ? Mẹ bỏ đi để những lời đồn đại cứ râm ran khắp làng trên xóm dưới. Có người thêu dệt ả lên thành phố để làm lại cuộc đời, đẹp như vậy tội gì phải buộc mình trong gia cảnh ngặt nghèo này. Nhưng cũng có người thương cảm mẹ già, con thơ lắt lay bệnh tật, cả nhà trông vào một tay cô ấy, quanh quẩn với mấy sào ruộng đồng bãi thì sao nổi.

Tôi chẳng thể thanh minh cho sự ra đi ấy của mẹ. Sâu thẳm trong tôi là vụn vỡ. Mười tám tuổi, tôi lên thành phố học đại học, mang theo ý định đi tìm mẹ. Bà nội tiễn tôi ra bến sông, lần trong vạt áo đưa cho tôi cuộn tiền bé bằng ngón tay cái. Tôi bặm môi bước xuống phà. Chiếc phà rùng rùng rời bến. Sương sớm giăng trên mặt sông bàng bạc. Bạc như mái tóc của bà. Rối ren, xa xót.

Thành phố đất chật người đông, ồn ào và xa lạ. Tôi thường để ý các tiệm tóc để tìm mẹ. Càng tìm càng bặt vô âm tín. Tôi không dám kể chuyện đó với bà. Mỗi lần về quê, tôi cố gắng mang về những niềm vui phố thị. Ánh mắt đục mờ của bà ấm lên mỗi lúc nghe tôi kể chuyện học hành. Nhưng tiếng thở dài như nén lại nỗi niềm u uẩn. Chỉ đến khi em Hậu đưa cho tôi một phong thư, lá thư đầu tiên mẹ vừa gửi về, tôi lần theo dấu bưu điện ấy mà đi...

Vì không chịu được những khả ố bỡn cợt ở tiệm cắt tóc, gội đầu của cô Nga, cũng không quen được với chao chát thị thành, mẹ về với làng bản, với cánh rừng trơ trụi đã cướp đi người thân yêu của mẹ như một sự lựa chọn an lành. Mẹ từng sợ những ám ảnh quá khứ, nhưng mẹ cũng nhớ bản làng, nhớ những cánh rừng nơi mẹ vốn thuộc về đến quặn thắt tim gan. Cánh rừng ấy dần hồi sinh và nỗi niềm nhớ thương khôn nguôi thì mẹ gửi về ngôi nhà hiu quạnh, nơi có người mẹ già tiều tụy cùng hai đứa con côi cút. Mẹ bảo nhiều lúc nhớ các con đến quặn lòng nhưng cuộc sống chưa ổn định, mẹ không đủ dũng khí để về, cũng không thể đưa chị em tôi đi cùng vì lo nếu chúng tôi theo mẹ sẽ phải gò lưng leo núi tìm con chữ, bỏ lại bà nội với căn bếp um úm khói cùng những mùa rạ rơm xơ xác. Mẹ muốn chúng tôi ở lại bên bà để nương tựa, chở che. Mẹ sẽ làm lại từ nơi mẹ sinh ra.

Thi thoảng bà nhận được tiền từ bưu điện xã. Cô bưu tá giấu tên người gửi, chỉ bảo với bà đó là khoản trợ cấp cơ quan cũ của bố gửi về.

Tôi gặp được mẹ ở một lâm trường trên cao nguyên Nà Sản. Chiếc áo thổ cẩm của mẹ nổi bật giữa những vạt thanh thiên quỳ, sa nhân, khôi nhung mơn mởn. Những cây thuốc ấy kiên trì bám vào đất, giữ cho những tán rừng bát ngát vươn xanh, giống như trái tim của những người đàn bà bấy lâu cứ ém chặt nỗi niềm riêng để chắt chiu, gom góp yêu thương. Mọi hiểu lầm đã được hóa giải, nhường chỗ cho niềm tin yêu nhen nhóm ươm mầm.

*

Bà nội nghiêng người thổi lửa. Ngọn lửa hồng rực, một vồng khói cuộn lên nhẹ thênh. Tôi nghe lòng mình chộn rộn khi bắt gặp những lấp lánh yêu thương ánh lên từ đôi mắt đen thẳm vời vợi của mẹ và cặp mắt đục mờ ngân ngấn của bà nội.

Ngoài sân, gió lạt xạt thổi bay đám lá khô, làm tan loãng những vạt khói xám nồng phơ phất.

leftcenterrightdel
 Tác giả Tạ Thị Thanh Hải.
Truyện ngắn mở ra với chi tiết khói bếp trong chiều tà, một hình ảnh tưởng chừng rất quen thuộc trong thơ văn. Song, bằng giọng văn tinh tế, giàu cảm xúc, tác giả đã diễn tả thấm thía sự đan xen giữa yêu thương và hiểu lầm, giữa mất mát và hồi sinh trong trái tim những người đàn bà góa chịu nhiều định kiến, tổn thương. Hình tượng khói chiều vừa là biểu tượng cho nỗi buồn đau, mất mát, nhưng cũng là dấu hiệu của sự sống, của những điều mỏng manh mà bền bỉ. “Khói chiều nồng ấm” vì thế không chỉ là câu chuyện riêng của một gia đình mà còn là khúc nhạc trầm về tình mẫu tử với sự bao dung, đức hy sinh lặng thầm mà sâu sắc. Vĩ thanh của khúc nhạc là niềm tin vào những điều ấm áp nghĩa tình vẫn nhen lên giữa cuộc đời nhiều dông gió. (Nhà văn PHAN MAI HƯƠNG)

Truyện ngắn của TẠ THỊ THANH HẢI