Mùa hè năm tôi lên tám, thế giới của tôi bừng sáng khi mẹ đón tôi về ở hẳn trong khu văn công Cầu Giấy. Mẹ tôi là diễn viên của Đoàn Ca múa Trung ương, và với tôi ngày ấy, khu tập thể chính là một thánh đường nghệ thuật lung linh. Tiếng đàn, tiếng sáo suốt ngày véo von, quyện trong không gian hào hoa, thanh lịch của những người nghệ sĩ tài danh. Những tà áo dài thướt tha, những ánh nhìn sắc sảo nhưng ấm áp của các cô chú nhạc công đã tạc vào tâm hồn non nớt của tôi một định nghĩa về sự cao sang.

Ở đây có nhiều đứa trẻ trạc tuổi tôi, như thằng Nhật, thằng Hải, thằng Hùng, cái Tình. Hải là bạn thân nhất của tôi. Mẹ Hải cũng là ca sĩ, bạn tâm giao của mẹ tôi. Hai người đàn bà đẹp và tài hoa ấy thường ngồi bên nhau sau mỗi buổi diễn, râm ran chuyện nghề, chuyện đời. Cha của Hải là bác Đình-một người thầy dạy đàn có tiếng là nghiêm khắc và kỷ luật.

Tôi vẫn nhớ như in buổi chiều hè oi ả ấy. Nắng đổ vàng rực ngoài bãi cỏ, tôi chạy đến phòng Hải định rủ nó đi chơi nhưng bước chân khựng lại bên bậu cửa sổ. Bên trong là một bầu không khí nghiêm túc. Hải ngồi đó, cây violin kẹp dưới cằm, đôi vai nhỏ bé rung lên theo từng nhịp thở. Bác Đình ngồi sừng sững trên chiếc ghế gỗ, đôi mắt sắc lẹm theo dõi từng cử động của bàn tay con, chiếc thước kẻ gỗ đặt trên mặt bàn như một biểu tượng của kỷ luật nghệ thuật khắt khe.

Đúng lúc đó, một con chuồn chuồn kim nhỏ xíu, thân xanh lấp lánh, bay lạc vào phòng rồi đậu xuống mép bàn gỗ ngay trước mặt Hải. Trong một khoảnh khắc, tâm hồn trẻ thơ của Hải bị cuốn theo đôi cánh mỏng tang ấy. Tiếng đàn chệch đi một nốt.

"Chát!"-chiếc thước kẻ đập xuống mặt bàn gỗ vang lên đanh gọn. Con chuồn chuồn giật mình bay vút đi.

- Tập trung vào!-giọng bác Đình vang lên nghiêm nghị.

Hải hoảng hốt đưa cây vĩ cầm lên, nhưng đôi tay run rẩy làm tiếng đàn lạc điệu. Bác Đình tiến lại, dùng cây thước kẻ đánh vào mu bàn tay Hải để uốn nắn tư thế. Hải cắn chặt môi, nước mắt trào ra thấm nhòe gỗ cây đàn quý. Tôi đứng ngoài nhìn bạn, lòng vừa sợ sự nghiêm khắc của bác Đình vừa thương Hải đến thắt lòng.

leftcenterrightdel
Minh họa: KHOA AN 

Mãi đến khi nắng tắt hẳn, Hải mới lầm lũi bước ra sau cánh gà sân khấu cũ gặp tôi. Nó đưa bàn tay còn hằn vết đỏ ra, giọng nghẹn ngào:

- Tao nghe bà ngoại tao nói, ông ấy không phải bố ruột của tao đâu.

- Thế bố mày là ai?-tôi trợn tròn mắt lên hỏi nó.

Hải lấm lét nhìn chung quanh như sợ ai nghe thấy, rồi thầm thì với tôi:

- Bố tao ở tận trong Nam... Ước gì tao được về với bố, chắc tao sẽ không phải tập đàn vất vả thế này.

Nỗi lòng của Hải chạm vào khoảng lặng trong tôi. Tôi có một người cha dượng là bộ đội. Dù bố Khánh Căn rất tốt, chưa bao giờ nặng lời nhưng tôi vẫn cảm thấy mình có chút lẻ loi. Nhất là tối chủ nhật, bố Khánh Căn và mẹ chở em Ngọc đi chơi phố, để tôi lại giữa khu văn công tối om, tiếng giun, dế kêu nỉ non làm nỗi tủi thân trong tôi trào dâng. Tôi đứng nhìn theo cái bóng xe khuất dần, rồi chạy sang nhà Hải, thấy bạn vẫn miệt mài bên cây đàn dưới sự kèm cặp tận tụy đến khắc nghiệt của bác Đình.

Tôi và Hải, hai đứa trẻ cùng nhau dệt nên một giấc mơ: Miền Nam, nơi có những người cha đang chờ đợi. Hải vẽ ra một kế hoạch "hành quân" chi tiết đến kinh ngạc để đi tìm cha: Trốn lên tàu hỏa ra sao, đi nhờ xe vận tải thế nào. Nhưng cái khó nhất là tiền.

Một buổi sáng, Hải tình cờ nhặt được một ví tiền ai đó đánh rơi trên bãi cỏ. Đáng lẽ phải trả lại, nhưng Hải đã giữ lại để làm "quỹ hành quân". Nhưng sự việc bị cái Thu nhìn thấy và mách với chị Quỳnh phụ trách Đội. Khi bị gọi lên hỏi, Hải vốn nhát gan đã khóc tu tu và khai ra tất cả. Cơn bão ập đến. Chị Quỳnh chạy đến báo cho mẹ tôi và mẹ Hải như thể chúng tôi đã sắp trốn nhà tới nơi.

Mẹ tôi phát hoảng, gương mặt xanh tái vì lo lắng và xấu hổ. Bà lập tức đưa tôi về nhà ông bà ngoại. Trong cơn giận và sự thất vọng, ông ngoại tôi, người xưa nay vốn hiền từ như Phật đã giáng cho tôi một cái tát nảy đom đóm mắt. Đó là cái tát duy nhất trong đời tôi nhận từ ông. Mẹ mắng tôi một trận xối xả, còn bà ngoại thì ôm tôi vào lòng mà khóc. Tôi bị cách ly khỏi khu văn công, về ở hẳn với ông bà để dứt khỏi lũ bạn "xấu". Giấc mơ miền Nam của hai đứa trẻ chúng tôi tan thành mây khói theo những vết hằn trên má tôi. Tôi xa thằng Hải từ đấy...

Mười năm sau, giữa rừng Trường Sơn. Rừng đón chúng tôi bằng những cơn mưa xối xả. Tôi giờ đã là một người lính thực thụ. Trong một buổi biểu diễn của đoàn nghệ thuật quân khu tổ chức trong vòm hang đá chói sáng ánh đèn neon, tôi sững sờ thấy một anh chàng kéo đàn trên sân khấu. Cái đầu nghiêng nghiêng, đôi mắt lim dim theo từng nhịp phím... Thằng Hải! Tôi thầm reo lên. Tiếng đàn của Hải lúc này không còn sự rụt rè của đứa trẻ bị đòn thước kẻ năm xưa. Nó vút cao, mãnh liệt và kiêu hãnh như tiếng rừng già.

Đêm ấy, chúng tôi ngồi bên nhau dưới bóng trăng Trường Sơn mờ ảo. Hải cầm tay tôi, nghẹn ngào: "Tao nợ mày một lời xin lỗi, Hoài ạ! Hồi đó, tao bịa chuyện bố mày ở miền Nam để rủ mày đi cùng cho đỡ sợ... Chú Khánh Căn chính là bố ruột của mày. Còn bố Đình của tao, chính sự nghiêm khắc của ông đã rèn cho tao bản lĩnh của người lính, cho tao tiếng đàn để đứng vững giữa Trường Sơn hôm nay".

Tôi nhìn Hải, nước mắt chảy tràn. Tôi muốn nói: "Hải ơi, mày không bịa đâu. Hoàn cảnh tao đúng là như thế...". Nhưng tôi im lặng. Giữa Trường Sơn, tình đồng đội và lòng biết ơn những người cha đã nuôi dưỡng chúng tôi trở nên thiêng liêng hơn bao giờ hết.

Sau năm 1975, đất nước thống nhất. Tôi về học tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Vào một buổi chiều hè, mẹ trao cho tôi chiếc nhẫn vàng một chỉ và nói: “Con vào Nam tìm cha đi”. Chính bố Khánh Căn cũng bảo: "Lá rụng về cội, em cứ để con đi tìm lại cha ruột của nó".

Tôi bàng hoàng (thầm biết ơn) trước lòng bao dung của người cha dượng ấy. Tôi đi để hoàn thành một vòng tròn định mệnh. Giữa Sài Gòn, tôi tìm thấy kỷ vật của cha mình. 45 năm cuộc đời, lần đầu tiên tôi được một người đàn ông ôm ghì vào lòng mà khóc.

Nhưng lòng tôi vẫn mang một nỗi đau sâu thẳm. Hải đã nằm lại ở rừng Trường Sơn sau một loạt bom B-52, ngay sau đêm hai đứa gặp nhau không lâu. Hải ra đi khi chưa kịp nói lời tri ân với bác Đình, cũng chưa kịp nhìn thấy ngày đất nước trọn niềm vui.

Dưới ánh trăng Trường Sơn, tôi vẫn nghe như có tiếng đàn violin của Hải vút cao, bay qua đại ngàn, tìm về với ký ức khu văn công Cầu Giấy năm nào. Rất nhiều khổ đau, nhưng nó vẫn là chiến sĩ đầy kiêu hãnh của tôi...

leftcenterrightdel
Nhà văn Châu La Việt. 
“Những phím đàn dưới trăng” của Châu La Việt là truyện ngắn giàu chất hồi ức, nơi ký ức tuổi thơ, chiến tranh, nghệ thuật và tình phụ tử hòa quyện trong âm vang sâu lắng. Từ không gian khu văn công Cầu Giấy với ánh đèn sân khấu và những nghệ sĩ thầm lặng, câu chuyện mở ra nỗi cô đơn, những hiểu lầm thơ dại và khát vọng đi tìm cội nguồn của trẻ nhỏ. Chiến tranh làm xáo trộn mọi điều nhưng vẫn giữ lại tiếng đàn tuổi thơ và hình ảnh người lính ngã xuống đã nâng đỡ người ở lại sống tốt hơn. Ở tầng ý nghĩa sâu hơn, truyện khắc họa cảm động hình ảnh những người cha nghiêm khắc mà bao dung, đã góp phần hun đúc nên những người lính bản lĩnh. Qua đó, tác phẩm khẳng định vẻ đẹp thiêng liêng của tình phụ tử, không chỉ từ huyết thống mà còn từ tình yêu thương, trách nhiệm và sự hy sinh. (TS HÀ THANH VÂN)

Truyện ngắn của CHÂU LA VIỆT