Tôi nhớ năm tôi lên sáu vào lớp 1, sau mấy tháng chạy long nhong trên cánh đồng làng, nhiều ngày muộn học vì trường khá xa và quen với thói ngủ nướng, tôi đã mấy lần được đứng ngoài cửa sổ nghe cô giáo giảng bài. Hành trang vào lớp 1 vỏn vẹn chỉ có mấy quyển vở, cây thước và những cuốn sách giáo khoa anh chị để lại từ những năm trước. Tâm hồn ngây thơ ngày ấy chỉ biết rằng đi học cũng như cuộc dạo chơi với lũ bạn hàng xóm trong khu rừng trước nhà, đứa được phân công làm cô giáo, đứa làm mẹ, đứa làm cha, quẩn quanh với bài học cuộc sống.
Cây dụ dị (còn gọi là hạt cườm) bắt đầu cho trái vào một ngày đẹp trời tháng tư, ban đầu nó màu xanh rồi dần dần chuyển qua màu trắng ngà, hơi phớt tím. Những ngày chăm chỉ trên lớp buổi sáng, buổi chiều chúng tôi rủ nhau vào rừng hái dụ dị làm vòng tay, vòng đeo cổ. Mỗi hạt dụ dị bé bằng hạt đậu đen, mấy đứa mon men về nhà ngoại, xin mượn cây kim vá quần áo. Rồi ngồi chụm chung một góc, lấy kim xuyên qua lỗ hạt, buộc chỉ lại với nhau, tạo thành những chiếc vòng nhỏ xinh. Hạt dụ dị già thường rất cứng và bóng, hạt càng già càng chắc và xâu vòng chẳng bao giờ bị teo lại. Tuổi thơ của đám trẻ quê, vui với những thứ trang sức gần gũi, dung dị. Một cây dụ dị cho hạt cũng không quá nhiều, nên để có đủ một chiếc vòng đeo cổ, chúng tôi phải lên rừng thường xuyên, chọn hạt đủ độ chín, cứng và già mới hái mang về. Khi ướm chừng đã đủ số hạt cho một chiếc vòng, cả nhóm mới xúm lại, đẩy ruột trong hạt ra, xâu chuỗi.
Những cô dâu, chú rể nhí thời ấy được luân phiên nhau, vòng dụ dị cho cô dâu đội đầu, chú rể cầm chuỗi hạt trao tay cô dâu ngày vu quy. Tuổi thơ ngọt ngào ấy đi qua như cái chớp mắt, để bây giờ khi bất chợt đâu đó có ai nhắc lại chuyện đi rừng tìm dụ dị, chuyện những cặp đôi bất đắc dĩ thời ấy, tôi lại khẽ mỉm cười, miên man bao điều của ký ức diệu vợi. Khoảnh khắc thằng Hòa rượt đuổi con Hiên dưới chân đê đầy cỏ may, hay thằng Chiến quỳ gối đầy lãng mạn dưới chân con Quyên... tất cả đều như thước phim quay chậm, kéo tôi về với miền thương yêu ấy. Chẳng có đứa nào nên đôi sau những ngày mải miết với tuổi thơ ấy, nhưng mỗi khi nhớ lại, đứa nào cũng bất giác mỉm cười.
Tôi trở về miền quê, len lén vào rừng tìm lại ký ức thuở ban sơ, tìm đến những vùng cỏ xanh ngày trước hay mọc nhiều dụ dị, thả hồn mình vào miền thăm thẳm ấy. Tôi nhớ Phương-thằng bạn nối khố ngày ấy được ghép cặp với tôi trong những lần chúng tôi chơi trò vợ chồng. Biến cố gia đình Phương đã kéo cậu ấy rời xa chúng tôi vào một ngày dụ dị đang mọc đầy trái. Những chiếc vòng dang dở, chờ ngày dụ dị chín. Tuổi thơ ấy day dứt mãi khi chiếc xe đò lăn bánh, cả lũ đứng dưới đê, khóc như mưa. Phương ngồi trên chiếc ghế cũ sau xe, miệng không ngừng hét lớn: “Chờ tao nhé, mùa dụ dị kết trái, tao lại về tìm tụi mày!”.
Gió thổi mênh mang, cả lũ xúm lại, ôm tôi như để an ủi rằng “rồi một ngày sẽ có đứa khác thay thế vào vị trí của Phương".
Cuộc sống bon chen kéo chúng tôi đi muôn ngả, mùa dụ dị về chẳng biết có đứa nào còn nhớ. Tôi chậm rãi nhón từng bước trên đoạn rừng còn nhiều cây mọc dại, nghe tim mình thổn thức ký ức xưa, nhớ lũ bạn, nhớ Phương và khoảng trời mênh mang ngày ấy. Dụ dị ơi khắc khoải gọi miền thương.
Tạp bút của NGÔ NỮ THÙY LINH