- Ông, à bác...
- Ừ, gọi sao cũng được, cháu có cần ta giúp gì không?
- Cháu, cháu có thể mượn bác một chiếc ghế được không ạ?
- Ghế à, để xem nào...
Tôi thật sự lúng túng. Trong nhà tôi gần như không thiếu một thiết bị nào nhưng ngoài bộ sofa ra thì có nhõn chiếc ghế gỗ ngồi đọc sách, chả nhẽ lại từ chối.
Cậu bé khệ nệ bê chiếc ghế gỗ ra về với lời cảm ơn lí nhí. Ngày bé, mẹ tôi từng dạy: “Đừng nên cho đứa bé bên hàng xóm mượn dao, nhỡ nó đứt tay”. Bố tôi có lần kể: “Cứ bảo hàng xóm láng giếng tối lửa tắt đèn có nhau nhưng có lần bố cho thằng cu trong xóm mượn cây đèn thế rồi không biết lóng ngóng thế nào nó đánh đổ, cháy cả nhà, may là...”. Một bà trong ngõ từng dặn tôi: “Thấy bác dễ tính quá, em nói thật, hễ thấy trẻ con nó có sang vay tiền thì bác đừng có cho, làm hư chúng ra đấy bác”.
Lần này nó chỉ mượn ghế... tôi thoáng giật mình. Trẻ em giờ đầy đứa manh động nhỡ tức bố mẹ chút là nó làm liều. Quên cả xỏ dép, tôi lao sang nhà hàng xóm và khựng lại trước cổng: Thằng bé đang ngồi dưới cái cổng sắt cũ mặc cho nắng đã lên gay gắt và mồ hôi vã trên trán.
- Cháu không vào nhà đâu, cháu muốn ngồi đây đợi mẹ về...
- Mẹ thì biết bao giờ mới về. Ngồi đây chết nắng, vào nhà đi... - tôi thuyết phục.
Nó ngước đôi mắt lên nhìn tôi và nói như thể một người đã rất từng trải:
- Cháu biết chứ, cứ khi mặt trời lên cao quá cái ống khói kia, mẹ cháu sẽ từ nhà máy đi ra chợ, rồi từ chợ mua rau về nhà nhanh lắm.
- Được đấy, nhưng nếu mẹ biết cháu ngồi bêu nắng thì lại mắng cho bây giờ.
- Bác ơi, khi thấy mẹ cháu về, cháu sẽ lại chạy vào nhà học bài. Là giả vờ thôi chứ cháu làm xong bài rồi.
- Ồ, đấy - giờ tôi mới nghĩ ra - sao cháu không đi học?
- Cháu, cháu có bệnh phải nghỉ học. Nhưng cháu biết bệnh của cháu không sao cả, chỉ là như cái cây hoa giấy kia ngày xưa nó cũng gầy tong teo mà giờ vươn mình cao lớn. Mà bác biết vì sao không?
- Thú vị quá, cháu kể đi!
- Là vì cháu đã đục một lỗ ở tường để nó chui ra với ánh nắng, thế là nó lớn như kia bác ạ.
Tôi nhìn cậu bé đầy thương cảm vì nước da xanh. Tôi không dám hỏi về căn bệnh và bao giờ nó có thể đi học trở lại.
Sáng hôm sau, khi tôi đang thiu thiu ngủ bỗng nghe tiếng sỏi lách cách ngoài đường. Tôi mắt nhắm mắt mở nhoài ra cửa sổ, hé tấm rèm ngó ra thì thấy thằng bé đã ngồi lù lù ở dưới bóng giàn hoa giấy, tung những hòn sỏi lên như chơi chuyền.
Không biết nó muốn gì hay tại hôm qua trước lúc quay lại nhà, tôi có nói một câu: “Bác lúc nào cũng ở nhà, cần gì cứ gọi nhé!”. Một lúc lâu, vẫn thấy cậu ta ngồi đó và vẫn tung viên sỏi lên như thể một vị trọng tài đang tung xu. Chính sự kiên trì đó đã kéo tôi ra khỏi giường, khoác chiếc áo khoác nhẹ và mở cổng bước ra.
- Bác ơi, sáng phải dậy sớm đi bộ, không thì phí hoài tuổi trẻ đấy.
Tôi bật cười. Người tóc đã bạc trắng đầu đây còn chưa triết lý thế mà một đứa trẻ lại lắm chuyện thế. Nó không lon ton đi trước như bọn trẻ con mà lặng lẽ đi bên cạnh tôi như một người bạn tâm giao.
Cậu bé nói đúng, buổi sáng ở đây thật trong lành, tôi vừa đi vừa vươn vai hít thở một lát quay sang đã chẳng thấy cậu ta đâu. Hóa ra, cu cậu đang lúi húi phía sau:
- Làm gì thế cháu?
- Cháu nhặt cái đinh...
Giờ tôi mới để ý, bên hông cậu ta có đeo một chiếc túi nhỏ đã cũ. Thế là từ lúc đó, tôi dán mắt vào mặt đường để lượm những cái đinh rơi vãi.
- Sao cháu thích nhặt đinh?
Nghe tôi hỏi, cậu bé không trả lời ngay mà cầm một chiếc đinh soi lên trời ngắm nghía rất lâu rồi bảo:
- Cái đinh bé mà đâm vào lốp xe là có khi mất cả tiền trăm vá xe bác ạ. Mình nhặt để người khác đỡ mất tiền mà mình lại được tiền bán phế liệu để mua sách. Câu nói của cậu làm tôi nhớ đến những ngày còn trẻ đi phụ hồ. Cánh thợ sức dài, vai rộng còn cắt vụn những thanh sắt của chủ nhà, uốn cong, giấu vào người để mang đi bán kiếm tiền nhậu. Giờ thì một đứa bé nhặt bao nhiêu đinh để đủ mấy chục nghìn mua cuốn sách?
Sáng hôm ấy sau khi đi bộ về, tôi không đòi lại chiếc ghế mà quyết định ngồi bệt bên cửa sổ để vừa đọc sách vừa ngó sang nhà cậu bé. Sáng ấy ở trong ngõ có một người bán hàng rong, một anh giao hàng, một cụ già tai biến chống gậy tập đi... như một bức tranh phản chiếu phần còn lại là cuộc sống xô bồ của những người khỏe mạnh ngoài đường kia.
Tôi cũng từng vội vã và chỉ nghĩ đến thế giới của riêng mình chứ mấy khi lắng nghe những câu chuyện của một trẻ con như thế này. Từ hôm đó, tôi và cậu bé tên Huy ấy luôn cùng nhau đi thể dục, ngồi chơi cờ hay sửa mấy thứ đồ lặt vặt trong nhà... Cho đến một hôm đang chơi bỗng nhiên Huy ngồi thừ ra.
- Cháu mệt à?
- Không, cháu đang nghĩ đến thứ tư.
- Thứ tư có chuyện gì?
- Hôm đó cháu và mẹ phải rời khỏi đây để vào Nam sống với ba. Ba cháu đã thu xếp được công việc để đón hai mẹ con vào rồi.
- Thế là cháu chỉ còn được chơi với bác đến thứ ba-tôi đáp.
- Cháu đang nghĩ không biết nên dành thời gian để chơi trò gì với bác?
Tôi suy nghĩ mất một ngày rồi quyết định dạy vẽ cho Huy. Cầm cây cọ lên ngắm nghía như lúc cầm chiếc đinh, Huy mở to đôi mắt ngây thơ. Dường như tất cả những người bước chân vào thế giới hội họa đều có đôi mắt ấy.
- Bác ơi, đầu tiên là vẽ gì nhỉ?
- Vẽ điều gì mà cháu muốn hay nghĩ đến nhất. Ví dụ như một vật gì cháu muốn có hay đã đánh mất. Một nơi nào cháu đã đến hay cháu tưởng tượng nó sẽ như thế này, như thế kia...
Suốt sáng hôm đó tôi thấy Huy chăm chú như một họa sĩ có nghề không bận tâm xung quanh. Tôi không có ý định bắt cậu bé phải học theo các quy tắc hội họa mà chỉ mong nhận được từ chính người bạn nhỏ này thêm một điều bất ngờ. Mồ hôi lấm tấm trên trán, dáng vẻ mệt mỏi như vừa phải khuân vác nặng nhọc, cho đến khi Huy đặt cây cọ xuống, tôi mới lại gần xem và ngạc nhiên. Huy vẽ một chiếc ô.
- Sao cháu lại vẽ chiếc ô?
- Vì nhà cháu không còn chiếc ô nào kể từ khi ba cháu đi vào Nam. Mẹ cháu đi xe máy nên mặc chiếc áo mưa. Nếu có chở thêm cháu thì cháu chui vào chiếc áo đó.
- Thế còn lúc cháu ở nhà...
- Mẹ cũng không cho cháu ra ngoài sợ mưa, sợ nắng ảnh hưởng đến sức khỏe của cháu. Cháu lại mong có một chiếc ô để có thể giương nó lên che cho mẹ mỗi khi mẹ về.
Tôi đợi khi màu đã khô, lấy chiếc khung đẹp nhất còn sót lại trong nhà để bo bức vẽ. Huy có vẻ xúc động và hồi hộp. Hai bác cháu tìm một trong số những chiếc đinh mà Huy nhặt được đóng lên tường và treo bức tranh lên trong căn nhà nhỏ của Huy.
Trưa hôm ấy, tôi nghe thấy tiếng chuông cửa. Người mẹ của Huy bất ngờ sang chơi. Tôi nhận bó rau của chị thay cho lời cảm ơn từ người hàng xóm lần đầu gặp gỡ và cũng là lần tạm biệt. Chị thật sự bất ngờ vì những ngày qua đứa con trai của mình đã cảm thấy vui vẻ. Nó chịu uống thuốc và ăn uống đều đặn.
Tôi cũng chỉ muốn nói với chị rằng bản thân mình cũng ngủ ngon giấc không còn bị ám ảnh bởi sự cô đơn khi sống xa vợ và các con. Từ lúc về đây, tôi luôn sống trong cảm giác hẫng hụt vì thiếu một người bạn.
Nhiều năm sau, tôi vẫn giữ liên lạc với Huy, được biết về thành phố phương Nam ấm áp chứng bệnh của cậu đã thuyên giảm, sức khỏe tốt hơn. Huy theo học hết chương trình phổ thông rồi theo học việc tại một xưởng thiết kế, quảng cáo. Một hôm, tôi nhận được một đơn hàng rất đặc biệt. Đó là một chiếc ghế gỗ tự nhiên được làm theo phong cách tối giản có thể gập lại và mang theo rất tiện lợi
Bất ngờ hơn nữa là khi tôi xem kỹ, phía sau chiếc ghế có khắc một dòng chữ: “Tặng bác món quà từ một người bạn nhỏ...”.
Với tôi, Huy đã thật sự trưởng thành từ rất lâu rồi...
| Người đàn ông đến nơi ở mới trong tâm trạng hẫng hụt, trống vắng vì xa gia đình. Ở đó, có một cậu bé hàng xóm nghỉ học ở nhà chữa bệnh. Họ trở thành đôi bạn thân thiết. Đọc truyện ngắn "Người bạn nhỏ" của Bùi Việt Phương, tôi lại nhớ tới câu danh ngôn nổi tiếng về tình bạn: Chúng ta đều là thiên thần chỉ có một chiếc cánh, và ta phải ôm lấy lẫn nhau để học bay. (Nhà văn TỐNG NGỌC HÂN) |
Truyện ngắn của BÙI VIỆT PHƯƠNG