Từ lâu, văn học đã được nhìn nhận như một hình thái ý thức xã hội đặc thù, tác động vào tinh thần. Văn học không trực tiếp đưa ra kết luận bằng khái niệm khoa học mà thông qua hình tượng nghệ thuật để gợi mở nhận thức và cảm xúc.
Thông qua con đường mỹ cảm, văn học có khả năng giúp con người tự soi chiếu, tự thanh lọc và hoàn thiện đời sống đạo đức của mình. Maksim Gorky thì nhấn mạnh: “Văn học là nhân học”. Còn Nguyễn Đình Thi từng viết: “Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng".
Thế nên, một tác phẩm lớn có thể đầy bi kịch, nhưng không làm người đọc tuyệt vọng; có thể phơi bày cái xấu, nhưng không khiến cái xấu trở thành chuẩn mực. Nói cách khác, cái đẹp trong văn học không đối lập với cái đau, cái tối, mà được hình thành trong quá trình con người đối diện và vượt qua những điều ấy.
Thực tế lịch sử văn học Việt Nam cho thấy, trong nửa đầu thế kỷ 20, các nhà văn chủ yếu tập trung vào những vấn đề lớn của lịch sử dân tộc, chiến tranh và lý tưởng cách mạng, qua đó thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người. Họ thường tập trung vào vai trò “phát ngôn cho tập thể”, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, cổ vũ đấu tranh với kẻ thù xâm lược, giành độc lập, tự do, qua việc khắc họa truyền thống yêu nước, anh hùng cách mạng của dân tộc. Ví dụ ở thể loại tiểu thuyết lịch sử từ năm 1945 đến 1986 đã có những tác giả, tác phẩm tiêu biểu: Nguyễn Huy Tưởng với "Sống mãi với Thủ đô" (1960), "Lá cờ thêu sáu chữ vàng" (1960); Hà Ân với "Trên sông truyền hịch" (1980), "Người Thăng Long" (1981); Chu Thiên với "Bóng nước Hồ Gươm" (1970); Thái Vũ với "Cờ nghĩa Ba Đình" (1981), Sơn Tùng với "Búp sen xanh" (1981)...
    |
 |
Thời nào người đọc cũng mong mỏi đi tìm cái đẹp “chân, thiện, mỹ” trong văn học. Ảnh: HẠ HỒI
|
Đây là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam.
Sang thế kỷ 21, nhiều nhà nghiên cứu văn học cho rằng, văn học mở rộng, đa dạng và đang trong quá trình định hình lại hệ giá trị. Văn học đã thoát khỏi sự đơn tuyến, trở nên phong phú về đề tài, giọng điệu và hình thức. Tuy nhiên, chính sự đa dạng này cũng làm nảy sinh những vấn đề về định hướng, chuẩn mực và chiều sâu tư tưởng, giá trị thẩm mỹ.
Thực tế đã xuất hiện các sáng tác mang khuynh hướng “mỹ học của cái tối”. Nhiều tác phẩm tập trung khắc họa những mặt tiêu cực của đời sống, những trạng thái bế tắc, tuyệt vọng của con người. Ở mức độ nhất định, đây là nỗ lực đi sâu vào những vùng khuất của hiện thực, góp phần làm phong phú cái nhìn về con người. Tuy nhiên, khi bị đẩy đến cực đoan, khuynh hướng này có thể dẫn đến việc tuyệt đối hóa cái xấu, làm nghèo đi chiều kích nhân văn của văn học, thậm chí tạo ra cảm giác bi quan kéo dài cho người đọc.
Trong bài “Đường biên sáng tạo của tiểu thuyết lịch sử” đăng trên Báo Quân đội nhân dân vào ngày 6-5-2022, TS Nguyễn Văn Hùng (Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Khoa học-Đại học Huế) đã phân tích, đánh giá về thể loại tiểu thuyết lịch sử rất đáng chú ý. Tác giả nhấn mạnh, trong số những tác phẩm mang cảm thức phân tích, luận giải, đối thoại, “giải thiêng” lịch sử, vẫn tồn tại những chi tiết chưa thật sự phù hợp với “ngưỡng tiếp nhận” của cộng đồng, những chi tiết trượt ra ngoài kinh nghiệm và hiểu biết cộng đồng, khiến cái nhìn về sự kiện, nhân vật lịch sử trở nên sai sự thật. Tác giả đưa ra các “hạt sạn” trong các tác phẩm: "Mùa mưa gai sắc" và "Gia phả" (Trần Vũ); "Trở về Lệ Chi viên" (Nguyễn Thúy Ái); "Chim ưng và chàng đan sọt" (Bùi Việt Sỹ); "Bắt đầu và kết thúc" (Trần Quỳnh Nga).... và cho rằng, cách làm sai lệch lịch sử, khiến những giá trị đích thực của lòng yêu nước bị hoài nghi.
Thực tế cho thấy, trong một tác phẩm, chỉ cần một chi tiết không đạt thẩm mỹ, lệch khỏi chuẩn mực cảm xúc và giá trị mà cộng đồng đang nâng niu thì rất dễ phá vỡ sự đồng cảm. Mà khi đồng cảm đã đứt, tư tưởng, nghệ thuật trong tác phẩm khó đứng vững. Người đọc dễ khép lại tác phẩm đó.
Bên cạnh khuynh hướng cực đoan hóa cái tối, còn xuất hiện những sáng tác sử dụng văn chương như một phương tiện để áp đặt những cách nhìn phiến diện về lịch sử và hiện thực. Ở đó, hình tượng nghệ thuật trở thành công cụ minh họa cho những định kiến có sẵn. Khi văn chương bị kéo lệch theo hướng ấy, nó không chỉ làm nghèo đi giá trị thẩm mỹ mà còn gây nhiễu loạn nhận thức của người đọc, định hướng thị hiếu thẩm mỹ của độc giả đến với những “dòng nước ngược”.
Biểu hiện rõ nhất là cổ xúy, trao giải và thậm chí tài trợ, xuất bản những tác phẩm văn học “cài cắm” những hình tượng nghệ thuật, biểu tượng mang tính đa nghĩa nhằm phê phán, bôi đen cuộc sống, bộc lộ thái độ chống đối, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Họ thông qua các hình tượng văn học để đưa ra những nhận định, quan điểm cá nhân thiếu cơ sở khoa học, lên tiếng chống đối, phủ định kết quả đổi mới ở Việt Nam.
Điển hình là “Bên thắng cuộc” của Huy Đức với vô vàn chi tiết hậu trường gây xôn xao dư luận; “Một thủa tạo sơn” xuất bản năm 2016. Nhiều cuốn sách ký, hồi ký, tự truyện có những chi tiết không được kiểm chứng, sai lệch thông tin, cài cắm nội dung phản cách mạng hoặc ám chỉ một cách lộ liễu. Tiêu biểu như “Một cơn gió bụi” hay cuốn “Miếng ngon Hà Nội” tái bản năm 2017.
Sách văn học dịch từ nước ngoài có nội dung sai sự thật, sáo mòn, vô bổ, dung tục, không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam như “Quỷ Vương” có nhiều chi tiết trái ngược với quan điểm của Đảng. Bên cạnh đó là những cuốn sách văn học thuộc thể loại ngôn tình, đam mỹ đã tiếp tay cho sự xâm nhập văn hóa “rẻ tiền” vào đất nước ta, gây lệch lạc trong nhận thức của người đọc, đặc biệt là giới trẻ.
Những biểu hiện trên cho thấy, vấn đề của văn học Việt Nam hiện nay không chỉ nằm ở nội dung hay hình thức, mà sâu xa hơn là ở sự dao động của hệ giá trị thẩm mỹ. Khi cái đẹp không còn được nhận diện một cách rõ ràng, khi ranh giới giữa sáng tạo và lệch chuẩn trở nên mờ nhạt, thì nguy cơ “đứt gãy” là điều khó tránh.
Nguyễn Minh Châu từng viết: “Nhà văn là người đi tìm hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người”. Thế nên, để có tác phẩm đem lại giá trị thẩm mỹ cao thì nhà văn phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt và thực sự quý trọng con người. Bên cạnh đó, phê bình văn học cũng cần là “cái cân” đánh giá chính xác giá trị, chỉ rõ những tác phẩm mang “mặt nạ” sau con chữ và đội lốt nghệ thuật, đi ngược lại lợi ích dân tộc. Đồng thời cũng nâng cao trách nhiệm của các cơ quan xuất bản, ngăn ngừa những tác phẩm độc hại, qua đó nâng cao thị hiếu thẩm mỹ của độc giả.
Một nhà văn chỉ có thể tạo ra giá trị đích thực khi trong gan ruột họ là con người, là lòng nhân ái và ý thức trách nhiệm xã hội. Khi biết đau nỗi đau của người khác, họ không chỉ viết bằng chữ, mà viết bằng lương tâm. Khi ấy, tác phẩm mới có thể hóa thành “vàng”, thành “ngọc”-không chỉ lay động mà còn dẫn dắt con người hướng thiện. Ngược lại, khi trong đầu nhà văn chỉ ken đặc những toan tính và lợi ích, thì trang viết không còn là tiếng nói của lương tri, mà chỉ là âm vọng của một nội tâm vẩn đục. Và từ đó, chữ nghĩa dù trau chuốt đến đâu cũng khó vượt khỏi cái bóng u uất, bi ai của chính người viết.
Xây dựng một nền văn học hiện đại, nhân văn cũng là động lực xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội; tạo sức mạnh nội sinh, góp phần vào sự phát triển bền vững của con người Việt Nam trong thời đại mới. Trách nhiệm ấy là của mỗi người và toàn xã hội mà trước hết là các nhà văn.
ĐỨC TÂM