Mới hôm 24 Tết vừa rồi chúng tôi còn hẹn anh Mậu ngày 25 qua nhà anh Thỉnh tất niên. Nhưng đến phút chót anh có việc đột xuất nên hẹn sau Tết. Cũng may, đầu tháng 3 mới rồi, trong một cuộc gặp đầu năm, tôi, anh Mậu, Phan Hoàng từ TP Hồ Chí Minh ra và Đoàn Văn Mật ngồi đến suốt buổi chiều, rượu rót tràn ly, chuyện đời, chuyện văn không dứt. Hôm ấy anh vui lắm, sức khỏe còn khá, da nốt hồng hào. Tôi bảo: Năm nay trông bác khá hơn. Anh trả lời: Cũng nhiều bệnh lắm, tuổi này không nói trước được điều gì...

Nhà anh cách nhà tôi vài trăm mét. Thi thoảng tôi hay gặp anh cắm cúi đi dọc hè phố Lý Nam Đế. Những năm gần đây, anh có thú đi xe buýt rong chơi, khi thì đến nhà các con, khi thăm bạn bè, lúc vào siêu thị... Anh bảo đi như vậy có cái hay được ngắm phố phường, chỗ nào rộng rãi thoáng đãng, không khí trong lành thì xuống đi bộ thể thao, ngồi ở nhà tù túng, chán chết. Cũng đôi khi tôi đi bộ, gặp anh ngồi yên lặng trên vỉa hè đường Hoàng Diệu, mắt nhìn xa xăm như đang mong đợi điều gì. Những lúc như thế, anh em thường chia sẻ mọi chuyện vui buồn. Tuổi già hay cô đơn, ưu tư, sức khỏe lại suy giảm nên dễ nhạy cảm, nhiều tâm tư không phải ai cũng thấu hiểu và cảm thông.

Anh vốn là người bình dị, sống chân thành, trân trọng mình và trân trọng con người. Trong thế hệ các nhà thơ thời chống Mỹ, anh không chỉ là cây bút giàu nội lực, viết khỏe, viết đều mà còn là chuyên gia biên tập chỉn chu, kỹ lưỡng, tinh tường. Vốn liếng của anh dày dặn, nhớ và thuộc hầu hết các bài thơ hay, thơ dở của rất nhiều nhà thơ từ xưa đến nay. Nhập ngũ năm 1966, anh trở thành người lính của Sư đoàn 312 anh hùng, lăn lộn trên khắp các chiến trường gian khổ, ác liệt ở Cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng (Lào) cho đến Quảng Trị, Khe Sanh, Tây Nguyên, miền Đông, miền Tây Nam Bộ, cuối cùng là Sài Gòn, tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân năm 1975 lịch sử.

Nguyễn Đức Mậu đến với thơ ca từ rất sớm. Con đường thơ ca của anh đầy nhọc nhằn, gian nan chứ không hề suôn sẻ. Yêu thơ, làm thơ từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường, nhưng không biết bao lần thơ anh viết ra không một báo, tạp chí nào in. Ngay cả khi anh đã vào bộ đội, tuổi cũng trên dưới hai mươi, thơ viết cả tập, đi bộ hàng chục ki-lô-mét từ đơn vị về tận Báo Văn nghệ gửi bài, nhưng chỉ nhận được câu trả lời đầy ái ngại của cán bộ biên tập tờ báo: Thơ cậu còn non yếu quá, báo khó dùng... Phải mất nhiều năm sau, khi ở chiến trường Lào về, người lính trẻ ấy mới có được chùm thơ mới, tươi khỏe đăng trên Báo Văn nghệ. Từ đấy, cái tên Nguyễn Đức Mậu mới quen dần với bạn đọc. Không phải ngẫu nhiên mà anh viết: “Đường kháng chiến gập ghềnh đèo dốc. Đường văn chương bạc tóc những đêm dài”. Như thế đấy, với anh, thơ chẳng dễ dàng gì. Anh như một lữ khách hành trình không biết mệt trên con đường thơ, dẫu biết rằng con đường đó đầy chông gai, thử thách: Thôi cứ đi con đường thơ dài lắm/ Tới đỉnh đèo trước mặt lại rừng sâu...

leftcenterrightdel
Tuyển tập thơ và trường ca Nguyễn Đức Mậu. Ảnh: THU HÒA 

Bằng sự nỗ lực không biết mệt mỏi và bản năng trời định, bản lĩnh thơ ca vững vàng, một niềm tin rắn chắc vào con đường đã chọn, Nguyễn Đức Mậu luôn khao khát viết được những bài thơ, câu thơ hay, mới mẻ. Anh đã cho ra đời 3 tập trường ca, 13 tập thơ ngắn và một số tập văn xuôi, các bài bình thơ. Đó là một gia tài lớn so với các nhà thơ cùng thế hệ. Mỗi tập thơ, bài thơ của anh là một lời tâm tình chia sẻ, một khao khát đến dạt dào, cháy bỏng: Trang giấy mỏng lặng yên như biển lặng/ Mong sao thơ dào dạt sóng cồn và Em mặc áo màu gì thì tình yêu màu ấy/ Anh là cây ân cần che mát bước em đi. Nhưng ẩn đằng sau đó là một tâm hồn thơ đầy mẫn cảm giấu kín nơi thẳm sâu tâm hồn thi sĩ thiết tha và đắm đuối của anh.

Những bài thơ: “Nấm mộ và cây trầm”, “Một cộng một bằng không”, “Đàn bò vàng trên đồng cỏ hoang”, “Trường ca Sư đoàn”... của anh thực sự chinh phục bạn đọc bởi đó là những bài thơ, câu thơ mới mẻ, nó chỉ được sáng tạo trong một lần vào một thời điểm duy nhất, nó gợi ra một vùng liên tưởng rộng lớn mênh mông, vừa thực vừa ảo, vừa có lý vừa phi lý. Bởi thế, anh xứng đáng nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt 1 năm 2001; Giải thưởng Văn học Asean năm 2001.

Với tôi, Nguyễn Đức Mậu là một đam mê say đắm và cống hiến hết mình cho thơ ca. Sự đam mê của anh có nguồn cội từ bản tính chân thật, hiền hòa làm nảy sinh trong anh niềm cảm hứng sáng tạo. Sự chân thành và nhân bản trong thơ anh đã chạm đến trái tim của nhiều đồng nghiệp và bạn đọc. Mỗi bài thơ anh viết ra là một nỗi niềm chia sẻ. Nó là cuộc sống của anh, là những chiêm nghiệm được chắt lọc qua thời gian. Nó giúp con người yêu thương nhau hơn, sống có niềm tin và mơ ước. Nó là tiếng nói đối lập với cái ác, cái bất thiện. Nó đề cao cái đẹp và lẽ phải, thôi thúc con người tin vào cái cao cả và phẩm giá. Nó khuyến khích con người vượt lên những đau thương, mất mát để hướng về phía trước: Mỗi câu thơ như sợi tơ dài/ Rút ra từ tháng ngày bom đạn/ Có khi là vết thương trên ngực bạn/ Có thể là ngọn lửa ở trong tôi.

Vĩnh biệt nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, một trái tim đa cảm, giàu lòng trắc ẩn. Sau bao năm tháng thăng trầm, trải qua bao trận đánh, những chiến trường gian khổ, ác liệt, những cái chết cận kề để lại trong anh nhiều di chứng nặng nề của cuộc chiến tranh, nhưng anh vẫn lạc quan, luôn tin vào con người, tin vào sự sống, vào cái đẹp, cái cao cả của thơ. Trong trái tim chân thành, nhân hậu nơi anh luôn bừng lên ánh sáng của niềm tin và hy vọng. Với anh, cuộc sống thực sự có ý nghĩa là sống vì cái đẹp, vì tình yêu thương và sự tử tế được tôn vinh.

Vĩnh biệt anh! Vĩnh biệt một nhà thơ xuất sắc của thế hệ các nhà thơ thời chống Mỹ. Một nhân cách sống có lý tưởng, có chính kiến, có niềm tin chắc nịch vào Tổ quốc và nhân dân. Anh đã dâng hiến trọn đời mình cho vẻ đẹp của thơ với trái tim nóng, giàu nhiệt huyết, nụ cười cởi mở chân tình luôn tỏa sáng. Xin vĩnh biệt một tâm hồn thuần khiết, giản dị luôn nhen lên ngọn lửa của tình yêu thơ ca và cái đẹp. Một tâm hồn vừa trong sáng, vừa vững chãi ấm nóng nhưng ẩn chứa nhiều suy tư: Lá vàng rơi một lời chi/ Cây đau ứ nhựa cũng vì chồi non.

Có lẽ vào những ngày cuối đời, trong sâu thẳm anh vẫn còn chất chứa bao dự định, bao khao khát hiến dâng. Nhưng thôi tất cả đã dừng lại. Anh Nguyễn Đức Mậu ơi! Gia đình, bạn bè, đồng đội và bạn đọc yêu thơ anh sẽ tiếp tục thắp lên ngọn lửa “rực cháy lên” như trong bài thơ “Màu hoa đỏ” nổi tiếng của anh.

MÀU HOA ĐỎ *
 
Có người lính
mùa thu ấy ra đi từ mái tranh nghèo
có người lính
mùa xuân ấy ra đi từ ấy không về

Dòng tên anh khắc vào đá núi
mây ngàn hóa bóng cây che
chiều biên cương trắng trời sương núi
mẹ già mỏi mắt nhìn theo

Việt Nam ơi! Việt Nam!
núi cao như tình mẹ bốn mùa tóc bạc nỗi thương con
Việt Nam ơi! Việt Nam!
ngọn núi nơi anh ngã xuống
rực cháy lên màu hoa đỏ phía rừng xa
rực cháy lên màu hoa đỏ trước hoàng hôn...
------- 
 * Nhạc sĩ Thuận Yến đã phổ nhạc bài thơ “Màu hoa đỏ” thành bài hát cùng tên năm 1991. Bài hát đã trở thành ca khúc được rất nhiều người Việt Nam yêu thích.

Xin vĩnh biệt một người bạn vong niên, một người đồng nghiệp thân yêu! Rồi đây, những vần thơ tinh tế, tài hoa cháy bỏng khát khao của anh vẫn không ngừng nở hoa kết trái: Biết đâu sợi tóc trong đêm bạc/ Lại trùng với khắc nụ thành hoa.

leftcenterrightdel

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu. 

Đại tá, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu sinh năm 1948, mất ngày 7-4-2026; quê quán: Xã Nam Điền, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định (nay là phường Vị Khê, tỉnh Ninh Bình); nguyên Trưởng ban Thơ, Tạp chí Văn nghệ Quân đội; nguyên Chủ tịch Hội đồng Thơ, Hội Nhà văn Việt Nam. Trong gia tài thơ đồ sộ của mình, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu dành phần lớn để viết về chiến tranh và người lính-theo cách của người từng đi qua chiến tranh-sâu sắc và tạo được dấu ấn riêng. Nhiều năm qua, ông luôn dành cho Báo Quân đội nhân dân, nhất là ấn phẩm Quân đội nhân dân Cuối tuần sự quan tâm và tình cảm đặc biệt, bằng sự cộng tác nhiệt tình, trách nhiệm, với những góp ý chân tình, sâu sắc.

Nhà thơ TRẦN ANH THÁI