Bản dịch của Phùng Văn Khai có thể được nhìn nhận như một nỗ lực quốc âm hóa di sản Hán văn của dân tộc. Quốc âm hóa ở đây không phải là làm mất đi tính bác học của nguyên tác, mà là tìm cho nguyên tác một chân dung mới trong tiếng Việt, gần gũi hơn, giản dị hơn.

Thể thơ lục bát giúp những ý niệm như “trung dung”, “kinh luân”, “thanh vân”, “hiển dương”, “đắc thời hành đạo”, “tế thế an dân”... trở nên gần hơn với người đọc hôm nay. Có lúc bản dịch nghiêng về phóng khoáng, có lúc thêm độ vang dân gian, có lúc làm đậm sắc thái cảm xúc so với nguyên tác. Chính điều ấy tạo nên phong cách riêng của bản dịch, không chỉ là dịch nghĩa thành thơ mà còn là một cuộc đối thoại thơ với thơ.

Những bản dịch thơ của Phùng Văn Khai có ý nghĩa như một nhịp cầu góp phần đưa thơ Phùng Khắc Khoan đến gần hơn với độc giả đại chúng bằng một hình thức thơ dân tộc quen thuộc, đồng thời khơi lại một di sản văn chương lớn, giúp người đọc hôm nay nhận ra Phùng Khắc Khoan không chỉ là một nhân vật lịch sử đóng khung trong sách giáo khoa mà còn là một thi nhân có đời sống nội tâm phong phú và cách hành xử đáng nêu gương sáng.

TS HÀ THANH VÂN

 

Gửi bạn phương xa

Ta xa bạn đã bao ngày

Tìm đâu bóng nhạn chân mây mịt mùng

Bẻ cành mai gửi nhớ nhung

Đêm tàn mộng dứt tình chung thẫn thờ

Giang san vạn dặm sao mờ

Tấc lòng nguyên vẹn nắng mưa can trường

Xưa nay tài lớn tất dùng

Trượng phu hội ngộ anh hùng thiên thu.

---------

Nỗi lòng đêm thu

Bài một

Đêm thu đếm giọt đồng hồ

Ngổn ngang ngọn sóng cơ đồ mênh mang

Trăng vàng hiên chếch trôi ngang

Gió như tên sắc thổi màn lạnh không

Nỗi đời ôm chứa mênh mông

Câu thần ngâm mãi thinh không trăng tà

Nam nhi lấy nước làm nhà

Há đâu chịu cảnh quần thoa trói mình.

leftcenterrightdel
 

Sáng sớm đi ở chân rừng

Mặt trời nhô sóng biển xanh

Trĩ đồng vui hót ta nhanh bước nào

Hoa cười môi nụ xôn xao

Lau tăm tắp núi trời cao dần dần

Cỏ cây quấn quýt reo mừng

Mây trời sà xuống theo cùng ca ngâm

Đường trường “dương hiển danh thân”

Vượt trên ngàn núi gian truân sá gì.

----------

Qua rừng lim

Rừng lim trăm cột chống trời

Tấm lòng sắt đá sương phơi lạnh lùng

Vua cần rường cột cương trung

Há nào ở mãi mịt mùng rừng sâu.

---------

Qua miền lam sơn

Cỏ cây gai góc mịt mùng

Dường như xuân sắp hé mừng qua đây

Phượng chầu, lân múa mắt cay

Rồng cuộn, hổ phục càng say tâm tình

Càng trông như bóng in hình

Lòng dân nghĩa nước đinh ninh vẹn toàn

Vua hiền sáng nghiệp yên an

Lòng dân quy thuận đá vàng thiên thu.

-----------

Thương đời loạn

Bài một

Gươm đao khói lửa triền miên

Quần hùng ai kẻ chong đèn nghĩ suy

Gió mưa tăm tối vần vi

Non sông tan nát, người đi phương trời

Xuất xử ở tại ta thôi

Hơn thua cứ mặc bọn người võ phu

Gạt mây đen phủi trắng mờ

Ung dung yên định cõi bờ bốn phương.

------------

Bài hai

Đạo không lìa bỏ như người

Diệt sinh, sinh diệt theo thời nghĩ chi

Chợ quê hay chốn triều nghi

Đổi thay thay đổi khen chê lẽ thường

Gian hùng không miếng đất chôn

Bia người trung hiếu hương thôn phụng thờ

Đông qua xuân biếc non tơ

Thánh nhân hiền tướng lời thơ an bình.

-------------

Khuyên người đi học

Trời đâu tiếc kẻ siêng năng

Cổ nhân sách quý tháng năm truyền thừa

Loạn thời tài học cũng thưa

Thánh hiền răn dạy từ xưa đến giờ

Khơi thông suối chảy xanh bờ

Tâm yên đạo ắt từng giờ hanh thông

Lòng yên tất hiện thong dong

Cầu chi bổng lộc thêm lòng rối ren.

----------

leftcenterrightdel
 


Bài từ thưởng xuân

Trời cao kéo khí dương về

Hơi xuân phấp phới bốn bề nắng xuân

Lại phen đổi mới xa gần

Mở mang thái vận tưng bừng yến anh

Hoa kia thắm thiết lá xanh

Liễu thanh, đào đỏ đầu cành non tơ

Oanh vàng ríu rít câu thơ

Bướm bay chấp chới xa mờ ven sông

Con đò phơi bến nước trong

Mây trời lướt nhẹ tầng không cao vời

Tiết xuân bày cuộc vui chơi

Này hoa này liễu một đôi áo hồng

Rượu nồng câu vịnh ca ngâm

Xiêm y tha thướt xem chừng càng say

Cận thần dâng yến trên tay

Sân rồng tiến sĩ cầu mây đôi đường

Tiệc vui truyền khắp muôn phương

Thánh quân hiếm gặp cột rường phúc ân.

------------

Tám cảnh ở nhà học

Bài một

Làm nhà học nơi cảnh đẹp

Cõi riêng bụi bặm để ngoài

Nhà thanh, đất đẹp trần ai khó tìm

Non soi bóng nước nổi chìm

Mây tan trăng sớm cánh chim khuất ngàn

Tâm an, chí vững, thân nhàn

Minh, thành, động, biến như làn gió xuân

Mai kia thiên hạ định phần

Làm thân chính trực, chuyên cần hôm mai.

 

Bài bốn

Trăng sáng chiếu xuống sân

Dịu êm cửa hé gió lùa

Tầng không trăng xuống cũng vừa đầy sân

Mai in bóng nhỏ phân vân

Trúc treo chênh chếch trăng ngân xạc xào

Trời càng cao đạo càng cao

Thoắt từ mặt đất vút vào tầng không

Ai hay cốt đạo vô cùng

Nhà thanh thanh ánh trăng mừng thanh thanh.

--------------

Tự thuật việc trong năm

Ngọc mài năm tháng mà nên

Xuân sang tráng kiện tuổi tên với đời

Hổ mình đạo hãy còn vơi

Dương danh cầu học như người hiền xưa

Ở nhà ngày tháng thoi đưa

Non sông gấm vóc gió lùa trăng ngân

Ngày sang thời vận đầy sân

Vua hiền, tôi sáng chúng dân thanh bình.

-------------

Đêm Ba mươi Tết ở doanh trại

Cổ nhân “trừ tịch” gọi tên

Quân doanh làm lễ trong đêm sáng lòa

Viên môn nghiêm trận sao sa

Sáng trưng “đình liệu” gần xa bập bùng

Ân uy nghiêm ngắn luật quân

Đồng cam sĩ tốt trăm phần vui thay

Vận trời luân chuyển nước mây

Quốc gia hưng thịnh đón ngày xuân sang.

-----------

Tự mừng sinh con trai

Sáu mươi tóc bạc râu dài

Bỗng sinh quý tử phúc đài trời ban

Châu từ Hợp Phố hân hoan

Nam Điền cốt ngọc vẻ sang vẹn mười

Ân cao riêng tạ ông trời

Hậu sinh hiếu thuận theo lời tổ tông

Anh em dòng tộc hanh thông

Liên tài giúp nước mới không thẹn nhà.

------------

Cây chuối

Vun trồng khoảnh đất tốt tươi

Yêu sao khóm chuối như người biếc xanh

Châu rơi lộp độp bên mành

Cửa nhà hé ngọn gió thanh đón chào

Giữ niềm nghĩa tín phong tao

Công danh tứ hải đạo cao muôn trùng

Kính trời đất hiếu tổ tông

Cháu con khang thịnh nối dòng danh gia.

-----------

Sâu dâu

Vật thời cao thấp ngắn dài

Sâu dâu nhỏ bé mấy ai nhắc cùng

Thân em một ngấn trắng trong

Sinh nơi bùn đất mà không lấm bùn

Duỗi co theo lẽ càn khôn

Mỹ nhân tự cổ tấc lòng thiên thu

Nào đâu sinh vật vô tri

Thi nhân thiên cổ bàn chi đến mình?