Tính ưu việt của chương trình - sách giáo khoa mới
Ưu điểm nổi bật nhất của chương trình, SGK Ngữ văn mới là được biên soạn theo hướng phát triển năng lực, phẩm chất của người học, chuyển từ diễn giải, thuyết giảng sang tổ chức hoạt động học cho học sinh. Môn Ngữ văn tổ chức rèn cho học sinh các kỹ năng đọc, viết, nói và nghe. Vì thế, để đạt mục tiêu và theo định hướng đổi mới, cần tăng cường tích hợp và phân hóa; đa dạng hóa các hình thức tổ chức, phương pháp và phương tiện dạy học; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
Khác với SGK Ngữ văn trước đây chủ yếu soạn theo tiến trình lịch sử của văn học thì nay soạn theo thể loại. Ngoài các bài học trong SGK còn có "Chuyên đề học tập Ngữ văn" nên phần nào xóa bỏ khoảng cách giữa văn và đời. Các bài học như "Nghệ thuật thuyết phục trong văn nghị luận" hay "Thế giới đa dạng của thông tin"... khiến cho bộ môn Ngữ văn không còn là câu chuyện trên trang sách, trong nhà trường mà nó gần gũi hơn với cuộc sống thường nhật; được người học vận dụng trong đời sống hằng ngày.
Trước đây, giáo viên thường chú ý truyền đạt kiến thức nội dung và nghệ thuật từng tác phẩm thì hiện nay sẽ chú trọng cung cấp cho học sinh công cụ, kỹ năng cơ bản, cần thiết để khi tiếp cận tác phẩm mới, các em biết cách đọc, cách phân tích. Với cách đổi mới dạy học Ngữ văn hiện nay, học sinh có nhiều cơ hội hơn để bày tỏ quan điểm, chính kiến, trao đổi, thảo luận, tranh luận, đặc biệt là trong những giờ dạy nói. Học sinh cũng có nhiều cơ hội rèn luyện những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống: Kỹ năng trình bày vấn đề, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng phản biện..., sẽ hạn chế được tình trạng chép văn mẫu. Với giáo viên sẽ vất vả hơn nhiều bởi phải suy ngẫm về phương pháp để tổ chức giờ dạy làm sao tạo điều kiện tối đa cho học sinh có thể chủ động chiếm lĩnh tri thức.
Thầy Hồ Tấn Nguyên Minh, Tổ trưởng Tổ Ngữ văn, Trường THPT chuyên Lương Văn Chánh (Đắk Lắk) chia sẻ: “Với chương trình mới, việc dạy và học bộ môn Ngữ văn trở nên thiết thực và có ý nghĩa. Giáo viên trở thành người đồng hành, định hướng cho học sinh. Vai trò chủ động được trao cho người học. Từ đó, phát huy tính sáng tạo, khơi gợi hứng thú-say mê cho học sinh trong mỗi giờ lên lớp. Bên cạnh đó, hoạt động dạy học Ngữ văn THPT ngày càng trở nên khoa học, hướng tới tính tích hợp cao"...
Nói về chương trình mới và những yêu cầu đối với người dạy Ngữ văn hiện nay, TS Chu Đình Kiên, giảng viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế khẳng định: “SGK Ngữ văn mới có “tính mở”, tính linh hoạt cao, vì thế bên cạnh việc người thầy phải vận dụng tối đa các phương pháp, kỹ thuật dạy học hiện đại thì vai trò định hướng, dẫn dắt mở rộng tri thức Ngữ văn trở nên rất quan trọng. Người thầy không chỉ có vai trò thiết kế, xây dựng mà trở thành kỹ sư tâm hồn, người truyền cảm hứng thực thụ, đúng nghĩa. Bên cạnh đó, với thay đổi trong hình thức kiểm tra đánh giá trong chương trình SGK mới đã góp phần “triệt tiêu” hiện tượng văn mẫu, đánh giá đúng, thực chất hơn năng lực, phẩm chất của học sinh”.
    |
 |
Tiết học Ngữ văn rèn luyện kỹ năng tranh biện cho học sinh ở Trường THPT Nguyễn Chí Thanh (TP Huế).
|
Đôi điều trăn trở
Việc đổi mới chương trình, SGK đáp ứng nhu cầu của thời đại. Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng, hiệu quả môn Ngữ văn trong nhà trường thì đòi hỏi mỗi thầy cô dạy Ngữ văn cần nắm vững tinh thần, mục tiêu, định hướng đổi mới để có phương pháp dạy học thích hợp. Theo cô giáo Tôn Nữ Quỳnh My, chuyên viên bộ môn Ngữ văn, Sở Giáo dục và Đào tạo TP Huế thì “để theo kịp được bước chuyển mình này, giáo viên Ngữ văn cần nhận thức rõ định hướng dạy học phát triển năng lực cho học sinh. Học sinh cần phải được trang bị các kiến thức, rèn luyện cả 4 kỹ năng: Nghe, nói, đọc và viết. Từ đó hình thành được năng lực tự đọc, tự cảm nhận, biết nhận diện, phân tích, đánh giá... văn bản. Do vậy, giáo viên cũng cần tự đổi mới chính tư duy đánh giá của mình, cần tránh sự áp đặt theo chủ quan của cá nhân người thầy. Tất cả phải hướng đến cách đánh giá khách quan, tôn trọng ý kiến cá nhân và bảo đảm sự phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, pháp luật”.
Dù đã 4 năm trôi qua kể từ khi đưa SGK và chương trình mới vào các nhà trường, song không ít giáo viên vẫn lúng túng trong phương pháp tổ chức dạy học môn Ngữ văn. Một trong những nguyên nhân của thực trạng này là do công tác tập huấn cho đội ngũ giáo viên trực tiếp đứng lớp thiếu đồng bộ, chưa hiệu quả. Nhiều đợt tập huấn thay đổi sách chủ yếu qua online nên tính “mù mờ” là không thể tránh khỏi. Trong năm học 2026-2027 này, việc thực hiện thống nhất một bộ sách "Kết nối tri thức với cuộc sống" thì với các trường từng sử dụng sách Ngữ văn của các bộ sách khác cũng sẽ gặp không ít khó khăn khi lần đầu đưa vào dạy và học bộ sách bắt buộc này.
Khi dạy bài đầu tiên trong SGK Ngữ văn 10 (bộ "Kết nối tri thức với cuộc sống") có tên "Sức hấp dẫn của truyện kể", không ít giáo viên lúng túng về phương pháp. TS Bùi Mạnh Hùng (Tổng chủ biên Bộ sách Ngữ văn 10, Kết nối tri thức với cuộc sống) lưu ý: “Một số thầy cô giáo vẫn chưa chú ý đến "mã thể loại" của thần thoại, vẫn chỉ chú ý đến nội dung nên không coi dạy thần thoại là yêu cầu phù hợp. Có thầy vẫn dành riêng 1 tiết để dạy phần Tri thức ngữ văn, sa đà vào lý thuyết nên kêu nặng... Cần chú ý đến mã thể loại của văn bản, có như thế thì học sinh mới có khả năng đọc một văn bản mới hoàn toàn thuộc thể loại đã học".
Khi dạy lớp 11, nhiều thầy cô cũng trăn trở về “độ khó” của bài “Cấu tứ và hình ảnh trong thơ trữ tình” (Ngữ văn 11). Một vài đơn vị kiến thức bài dạy đưa vào trong SGK mới khá nặng, mang tính hàn lâm đối với học sinh, nhất là những em hạn chế năng lực môn Ngữ văn, học sinh vùng sâu, vùng xa... Cô giáo Lê Thị Hương Lý, giáo viên Trường THPT Đào Duy Từ (Quảng Trị) chia sẻ: “Khái niệm về tứ và tứ thơ giải thích thế nào cho học sinh nắm bắt, thấu hiểu thật không đơn giản. Khái niệm trong sách vẫn còn mơ hồ. Mỗi người có một cách giải thích thiếu đồng bộ". Sự thật nhiều giáo viên rất lúng túng trong việc tìm cách dạy mới sao cho có hiệu quả".
Từ khung chương trình và những lưu ý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, mỗi tỉnh, mỗi trường lại xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp với thực tiễn. Vì thế, cũng có tình trạng có trường thì yêu cầu dạy tất cả văn bản được đưa vào trong từng bài học, có trường thì chỉ chọn văn bản phù hợp, còn lại hướng dẫn học sinh tìm hiểu. Chính điều này gây tranh cãi và tính "so le” khi thực hiện. Những lớp học có dạy thêm chuyên đề Ngữ văn, dạy thế nào và phân phối lúc nào trong kế hoạch dạy học vẫn đang là câu chuyện băn khoăn của không ít giáo viên đứng lớp.
Việc đổi mới ra đề không sử dụng tác phẩm đã học trong SGK để phát huy tính sáng tạo, khắc phục tình trạng học theo văn mẫu là chủ trương đúng đắn. Tuy nhiên, nhiều thầy cô giáo trực tiếp đứng lớp có chung nỗi niềm là, với cách ra đề kiểm tra, đánh giá, thi cử như hiện nay thì học sinh không cần phải học thuộc lòng thơ. Chọn bài thơ nào ngoài SGK thì buộc người ra đề phải đưa nó vào trong đề, còn những bài thơ có trong sách, với tâm lý không thi, học sinh sẽ không thuộc lòng. Chính thực trạng này khiến các bạn trẻ hiện nay rời ghế nhà trường phổ thông nhưng không có được dăm ba câu thơ nằm lòng. Không thuộc thơ, tâm hồn sẽ khô héo, chất văn sẽ giảm đáng kể.
Để việc đổi mới môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông thật sự khởi sắc, đạt được những kết quả như mong đợi, theo đúng mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông mới đề ra, thiết nghĩ, ngành giáo dục cần chú trọng hơn nữa công tác bồi dưỡng, tập huấn bài bản, khoa học cho đội ngũ trực tiếp đứng lớp. Quan trọng hơn, mỗi một giáo viên phải tích cực, chủ động tìm hiểu, nắm bắt đúng tinh thần đổi mới, từ chương trình, SGK, phương pháp dạy học đến kiểm tra, đánh giá. Có như thế mới hy vọng việc đổi mới lần này thật sự mang lại hiệu quả thiết thực.
Bài và ảnh: TRẦN VĂN TOẢN