Ngay sáng 23-9-1945, Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ được thành lập, với lời kêu gọi "Độc lập hay là chết!" của Chủ tịch Ủy ban Trần Văn Giàu. Tiếp đó, ngày 25-9-1945, bài “Nam Bộ kháng chiến” bùng cháy khắp nơi, hát về đoàn chiến sĩ "... chân đi không, mà lòng người giàu lòng vì nước. Nóp với giáo mang ngang vai...”.  

Theo lời kêu gọi của Bác Hồ ngày 26-9-1945, chuyến tàu của đoàn quân Nam tiến đầu tiên rời ga Hàng Cỏ (Hà Nội)-một chi đội gồm 3 đại đội Giải phóng quân (Hà Nội, Bắc Sơn, Bắc Kạn). Trên đường đi, tại các ga: Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Đồng Hới, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, các đại đội Nam tiến đã chờ sẵn, tức khắc nhập vào đội hình.

Suốt hai tháng, với tần suất nghẹt thở, hầu như ngày nào cũng có tàu Nam tiến. Tại sân ga Nam Định, Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, người cao lớn, đứng trước hàng quân bắt nhịp hành khúc “Phất cờ Nam tiến”, là sáng tác của chính ông.

Hướng về miền Nam ruột thịt, cả nghìn người trên những toa tàu hòa trộn mọi tầng lớp: Giải phóng quân từ chiến khu, học sinh, sinh viên xếp bút nghiên, thợ thuyền, nông dân, hướng đạo sinh, nhà sư “cởi áo cà sa, khoác chiến bào”, thanh niên Công giáo với lòng “kính Chúa-yêu nước”. Kiều bào ở Thái Lan, Lào nghe tin cũng về nước gia nhập đoàn quân. Nhiều thiếu niên trốn nhà, chui vào toa than đi theo. Một nhóm văn nghệ sĩ tham gia đoàn quân, trong đó có nhà văn Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng... Trang phục tự túc với complet, áo trấn thủ, người đi giày đinh, người chân đất. Đa số mang vũ khí thô sơ: Kiếm, mã tấu, dao găm, một ít súng, lựu đạn, chai cháy, mìn, bộc phá...

leftcenterrightdel

Đoàn quân Nam tiến năm 1945. Ảnh tư liệu 

Tàu chạy suốt ngày đêm. Các toa tàu không đèn, bóng tối dày đặc, nhưng tiếng hát vẫn rộn vang, từ sáng sớm tới đêm khuya, xé toang màn đêm, át tiếng bánh xe nghiến trên ray sắt. Một người hát bắt nhịp, cả toa hòa theo, dội vang với “Lên đàng”, “Tiếng gọi thanh niên”... lan suốt dọc đoàn tàu. Sổ tay ghi câu thơ, chép bài hát được chuyền tay đến sờn mép, trang giấy thấm mồ hôi, nhòe nét chữ.

Khi đoàn tàu dừng ở ga, hàng trăm người dân ùa đến, ấn vào tay chiến sĩ nào gạo, khoai sắn luộc, cơm nắm, bánh chưng, nước vối... Hàng trăm chiến sĩ ào xuống tàu, mang theo đàn, kèn, sáo, biến sân ga thành sân khấu. Các chiến sĩ cùng người dân hát vang bài “Đoàn Vệ quốc quân": “Ra đi ra đi bảo tồn sông núi, ra đi ra đi thà chết chớ lui...”, rồi đồng thanh hô lớn “Ra đi, ra đi!”...

Trên sân ga, các chiến sĩ cùng các đoàn thể phụ nữ, thanh niên địa phương và nhân dân, vừa tiếp tế, ca hát, vừa kết nạp tình nguyện quân tại chỗ. Ngay tại các ga, thanh niên viết đơn bằng máu xin gia nhập đoàn quân. Khi tàu chuẩn bị rời ga, các chiến sĩ trên toa tàu và nhân dân dưới sân ga đều đứng nghiêm, đồng thanh hát: “Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc...” như lời chào thiêng liêng.

Trên thế giới, chiến tranh vệ quốc xưa nay có cảnh tiễn biệt ở sân ga với tiếng còi tàu xé lòng, người lính chính quy trong quân phục chỉnh tề bước lên tàu, những cái ôm ly biệt đẫm nước mắt... Riêng đoàn quân Nam tiến của Việt Nam ghi dấu ấn độc nhất vô nhị: Cờ đỏ sao vàng rợp trời, tiếng cười và dáng oai hùng của đoàn quân “rũ áo vải đứng lên thành chiến sĩ”.

Không có chia ly bi lụy và đau thương, chỉ có ý chí “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, với khát vọng “Bắc-Trung-Nam một nhà”. Họ ra trận với câu hát hào hùng và nét mặt rạng ngời của người đi trẩy hội, xem bảo vệ Tổ quốc là đặc ân thiêng liêng. Cuộc hành quân Nam tiến trở thành ngày hội lớn của dân tộc.

Vào đến Nam Trung Bộ và Nam Bộ, các chi đội Nam tiến, với một nửa trang bị là vũ khí thô sơ, đụng độ ngay xe tăng và súng hạng nặng của địch. Trải qua lửa đạn khốc liệt, họ thành những "hạt giống đỏ", xây dựng nên các sư đoàn bộ binh, đại diện cho sức mạnh bách chiến bách thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Chi đội 1 do ông Hoàng Thơ và ông Nam Long chỉ huy (tại Huế thêm một đại đội do ông Cao Văn Khánh chỉ huy) có chiến công nổi bật đầu tiên: Đánh phá cầu sắt chiến lược Bình Lợi bắc qua sông Sài Gòn trên tuyến Bắc-Nam. Ban chỉ huy lập kế hoạch táo bạo: Dùng đầu máy kéo các toa chất đầy bao cát, bên trong giấu hai đại đội để bất ngờ áp sát, nổ súng diệt lính gác. Chi đội 1 thành nòng cốt lập nên Trung đoàn Trần Cao Vân (Trung đoàn 101), là trung đoàn mũi nhọn của Sư đoàn 325.

Vào ngày Tết Bính Tuất 1946, 600 chiến sĩ Chi đội Bắc Bắc lên 3 tàu thủy mang tên Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư và Ký Con. Theo lệnh của Chi đội trưởng Lư Giang và Chính trị viên Lê Văn Lương, 3 con tàu xếp hàng ngang, tuyên thệ với anh linh tiên tổ trước đền Kiếp Bạc, kéo còi rời Lục Đầu Giang hướng thẳng Nam Bộ. Trận chiến đầu tiên-"Ăn Tết bằng hai trận đánh"-diễn ra tại Mặt trận Thành Diên Khánh. Khi đoàn quân từ xa chỉ vừa kịp đến, quân Pháp ỷ vào vũ khí đầy đủ tấn công ào ạt. Với vũ khí thô sơ, các chiến sĩ đánh giáp lá cà, bẻ gãy nhiều đợt tấn công, buộc địch phải rút lui. Tại Mặt trận Nha Trang-Khánh Hòa, chi đội góp công lớn vào kỳ tích "101 ngày đêm giam chân địch trong thành phố". Chi đội Bắc Bắc là tiền thân nòng cốt của Trung đoàn 36, Sư đoàn 308.

Ông Hoàng Đình Giong, dân tộc Tày, người đã đứng đầu Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Cao Bằng, chỉ huy Chi đội Nam tiến của Cao Bằng-Nam Định-Thái Bình. Tháng 3-1947, trên cương vị Tư lệnh Khu 6, ông bị trúng đạn khi chiến đấu trực diện với địch và hy sinh. Tay ông vẫn cầm khẩu súng ngắn đã bắn đến viên đạn cuối cùng. Chi đội này là thành phần quan trọng tạo nên Trung đoàn 9, Sư đoàn 304.

Chi đội Vi Dân thành lập cuối năm 1945, với nòng cốt gồm công nhân cứu quốc, tự vệ nhà máy của Thủ đô. Đầu năm 1946, chi đội tập kích táo bạo vào doanh trại địch tại Tu Bông-Vạn Giã. Đêm 13-3-1947, Trung đoàn trưởng Vi Dân trực tiếp chỉ huy trận huyết chiến hạ đồn ở An Khê (Gia Lai) và anh dũng hy sinh. Chi đội Vi Dân làm nòng cốt lập nên Trung đoàn 95.

leftcenterrightdel
Các đồng chí : Cao Văn Khánh, Lê Trọng Tấn, Văn Tiến Dũng, Lê Quang Đạo, Phạm Hồng Sơn (từ trái sang) tại Mặt trận Trị Thiên năm 1972. Ảnh tư liệu

Các chi đội Nam tiến của Nam Trung Bộ hợp nhất dưới quyền chỉ huy của ông Nguyễn Chánh-người đã lãnh đạo khởi nghĩa Ba Tơ, giành chính quyền ở Quảng Ngãi tháng 8-1945. Đầu tháng 10-1945, chi đội hợp nhất dàn trận đánh cả nghìn quân Pháp từ thiết giáp hạm Richelieu đổ bộ lên bãi biển Nha Trang. Chi đội hợp nhất tạo thành trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân khu 5 và làm nòng cốt cho Sư đoàn 2.

Chi đội Hải Phòng và liên quân Kiến An do ông Phạm Văn Bắc chỉ huy. Vào đến Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, chi đội lao vào trận chiến khốc liệt nhất ở Mặt trận Đường 21 và Mặt trận Ninh Hòa-Khánh Hòa. Đợi xe tăng và bộ binh địch tới gần, bộ đội ta và các tổ quyết tử đồng loạt xông lên đánh cận chiến bằng mã tấu, dao găm, súng trường, chai cháy, bom ba càng và lựu đạn chùm. Suốt nhiều ngày đêm, các chiến sĩ Hải Phòng với tinh thần "gửi thân đất Nam, giữ lòng đất Bắc" kiên cường đẩy lùi hàng chục đợt địch tấn công. Trong một trận chiến quyết liệt, Chi đội trưởng hy sinh anh dũng. Chi đội này là nòng cốt lập nên Trung đoàn 42, Sư đoàn 320.

Trên sân ga, tháng 11-1945, Bí thư Thành ủy Hải Phòng Lê Quang Đạo (với bí danh Trần Hoạt) tiễn đưa Chi đội Hải Phòng. Hơn 20 năm sau, đồng chí Lê Quang Đạo cùng đồng chí Cao Văn Khánh dẫn dắt đoàn chiến sĩ tuổi đôi mươi leo đèo, lội suối hướng về Nam. Hai thế hệ cùng đi mở các chiến dịch lịch sử: Đường 9-Khe Sanh năm 1968, Đường 9-Nam Lào năm 1971, Trị Thiên năm 1972. Đồng chí Lê Quang Đạo, Chính ủy các chiến dịch này, đã viết: “Tất cả họ đã góp phần làm nên lịch sử... Những lớp người khác nhau ấy có một cái gì chung rất giống nhau: Rất trẻ, rất hồn nhiên, rất vui nhộn, rất anh dũng, rất dễ thương, rất đẹp”.

Năm ấy, các chiến sĩ lên đường ở tuổi mười tám, đôi mươi, với lời thơ chúc Tết năm 1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Bao giờ kháng chiến thành công/ Chúng ta cùng uống một chung rượu đào”. Trong 30 năm của hai chặng đường dài, vượt qua bao mưa bom bão đạn khốc liệt, cuộc trường chinh vĩ đại vì độc lập của dân tộc Việt Nam đã tới đích, với những chiến thắng rung chuyển địa cầu.

TS NGUYỄN QUANG THẮNG