Cùng tôi luyện ở khu vực Thượng Đức

Ngay sau khi chi khu quân sự-quận lỵ Thượng Đức, "cánh cửa thép" bảo vệ phía Tây Nam thành phố và căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng của ngụy quyền Sài Gòn bị ta đánh chiếm ngày 7-8-1974, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu vội điều sư đoàn dù thiện chiến thuộc lực lượng tổng trù bị chiến lược quyết tái chiếm Thượng Đức.

 Cùng với xây dựng, phát huy hỏa lực của các cụm pháo lớn, địch tập trung bao vây Trại Lù-căn cứ rất quan trọng, nơi nghỉ ngơi, củng cố lực lượng của cán bộ, bộ đội, du kích ta sau các trận đánh. Đó là một hang đá ngầm sâu trong lòng núi, ở độ cao gần 1.000m so với mực nước biển, thuộc địa phận thôn An Định, xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Hà Nha, TP Đà Nẵng). Nơi đây, ngay từ khi bị địch phát hiện (trước năm 1970), ngày ngày phải hứng chịu đạn “pháo bầy” 130mm từ các trận địa ở Núi Lở, Bồ Bồ, Đức Dục, An Hòa, động Hà Sống giội tới; lại thêm máy bay các loại oanh tạc bằng bom và đạn rốc két... nên thành ra trơ trọi. Chỉ còn loài rau nhớt rừng bám trên vách hầm đá, thứ duy nhất giúp du kích vượt qua cơn đói lả, khi mà các nguồn tiếp tế bị cắt đứt.

Suốt gần 4 tháng kể từ khi địch bao vây Trại Lù, bà Trịnh Thị Liền-người chỉ huy trực tiếp lực lượng đấu tranh chính trị, binh vận tại địa phương, giữ vai trò nòng cốt trong phong trào phụ nữ du kích xã Đại Quang (huyện Đại Lộc)-đã phải bám trụ trong hang đá, chỉ ăn bắp với rau nhớt rừng để cầm cự, chờ thời cơ... Với bản lĩnh kiên cường, bà vận động những người dân cùng ở với mình kiên trì chịu đựng để giữ bí mật về tình hình tại căn cứ. Nếu vì gian khổ quá mà ra khỏi hang để địch bắt được, hậu họa sẽ khôn lường...

leftcenterrightdel

Cựu chiến binh, Anh hùng LLVT nhân dân Phạm Văn Thọ. Ảnh: KHÁNH LỘC 

Thời gian ấy, đồng chí Phạm Văn Thọ đang là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 (thuộc Trung đoàn 3, Sư đoàn 324, Quân khu Trị Thiên Huế). Anh sinh năm 1950, quê ở xã Định Hải, huyện Tĩnh Gia (nay là phường Hải Lĩnh), tỉnh Thanh Hóa. Sau khi cùng đồng đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hiệp đồng với đơn vị bạn đánh chiếm chi khu-căn cứ quân sự Thượng Đức (từ ngày 29-7 đến 7-8-1974), anh Thọ đã tiếp tục chiến đấu vô cùng dũng cảm để giữ vững cụm chốt Ba Khe, cao điểm 126, ngăn chặn quân địch vào giải tỏa Thượng Đức. Ngày 14-8-1974, ta đánh chiếm và cắm cờ làm chủ điểm cao 52 gần làng Hà Nha và sườn đồi Hà Sống (cách căn cứ Thượng Đức khoảng 5km về phía Đông Bắc, là "cánh cửa thép" bảo vệ căn cứ này).

Kể từ thời điểm ấy, Tiểu đoàn 8 đứng chân tại chỗ, thực hiện nhiệm vụ xây dựng trận địa phòng ngự (gọi là chốt thép T2), cụm Ba Khe-điểm cao 126-bình độ 400, chống quân dù địch lên tái chiếm vùng giải phóng Thượng Đức. Dầm mình trong gian khổ, ác liệt, cán bộ và chiến sĩ ta đã ngoan cường đánh bại các đợt tiến công của địch, giành giật từng điểm cao, giữ vững trận địa.

 Cuộc gặp gỡ đặc biệt

Nhập nhoạng tối 8-2-1975, Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Thọ cùng tổ trinh sát đi kiểm tra trận địa ở phía trên hang Lù thì thấy dấu hiệu khả nghi, liền bố trí mai phục rồi thấy một người phụ nữ chừng hơn 50 tuổi gần như kiệt sức, từ trong hang bò ra khu bãi rác của địch. Bộ đội ta đưa bà về Sở chỉ huy Tiểu đoàn 8. Trong lúc các chiến sĩ cho bà ăn cơm, anh Thọ báo cáo sự việc về trung đoàn, phối hợp với địa phương xác minh được danh tính của bà... Người phụ nữ ấy chính là bà Trịnh Thị Liền, sinh năm 1924, tại thôn Phú Hương, xã Đại Quang, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Bà tham gia cách mạng từ năm 1947, là Phó bí thư Chi bộ thôn Phú Hương, Hội phó Hội Phụ nữ xã Đại Quang.

Sau khi Hiệp định Geneva về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam và Đông Dương được ký kết (ngày 21-7-1954), bà Liền được tổ chức phân công ở lại địa phương hoạt động, giúp đỡ cán bộ cách mạng trong hoàn cảnh bị địch khủng bố khốc liệt. Tháng 10-1962, bà đang mang thai thì chồng bà (cũng là cán bộ cách mạng) bị địch sát hại ngay tại nhà. Để “đền nợ nước, trả thù nhà”, khi con được 17 tháng tuổi, bà nhờ thân mẫu nuôi dạy cháu rồi thoát ly, tập trung cho hoạt động cách mạng.

Bà từng chỉ huy nhiều cuộc đấu tranh chính trị, binh vận và những trận đánh khiến kẻ thù khiếp đảm. Một đêm, vào lúc 23 giờ, trên đường đi công tác về bị trúng đạn từ một ổ phục kích của lính Mỹ, bà kiên gan nằm như chết trên vũng máu, không để chúng phát hiện; đồng thời khéo léo ra hiệu cho các đồng chí ta biết, đi lối khác về hậu cứ. Chờ tới thời điểm phù hợp, du kích đã cứu bà thoát chết. Có lần đi làm nhiệm vụ, bị giặc dí mũi dao găm vào cổ, bà đã nhanh như cắt xô hắn ra và chạy thoát...

leftcenterrightdel

Mẹ Trịnh Thị Liền (mặc áo dài, hàng thứ nhất) và người con kết nghĩa Phạm Văn Thọ (thứ hai, từ trái sang, hàng sau cùng) với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, dịp 22-12-1984, tại Phủ Chủ tịch. Ảnh tư liệu

Cuộc gặp gỡ trong hoàn cảnh đặc biệt như vậy đã kết tình mẹ con giữa bà Trịnh Thị Liền với anh Phạm Văn Thọ-hai chiến sĩ cách mạng ở hai vùng quê Tĩnh Gia và Đại Lộc. Hai địa phương này vốn “nghĩa nặng tình sâu”, từng kết nghĩa với nhau từ mùa xuân năm 1960 vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

Người mẹ Quảng Nam được biết, anh Phạm Văn Thọ nhập ngũ tháng 3-1967, vào Sư đoàn 304, Quân đoàn 2. Sau huấn luyện chiến sĩ mới, cuối năm 1967, anh được tăng cường về Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 3, Sư đoàn 324, Quân khu Trị Thiên Huế rồi đi B. Tại các chiến trường: Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Tây Nguyên, Quảng Nam-Đà Nẵng vô cùng ác liệt, anh Thọ tham gia chiến đấu hơn 40 trận, từng chỉ huy đơn vị tiêu diệt hàng nghìn tên địch. Bản thân trực tiếp diệt 60 tên, bắt sống 36 tên, thu 50 khẩu súng các loại, bắn rơi tại chỗ 1 máy bay lên thẳng của Mỹ, mở đầu phong trào bắn máy bay địch bằng súng bộ binh ở Trung đoàn 3. Đặc biệt, trong Chiến dịch Trị Thiên tháng 6-1972, đơn vị tiến công địch tại cao điểm 372 (Tây Nam Huế) làm bàn đạp đánh Động Tranh và án ngữ trục Đường 12, Phạm Văn Thọ đã làm một việc mà chỉ những người có thể lực và ý chí phi thường mới có thể làm được. Đó là liên tục bắn 12 quả đạn B40, B41 (chiến sĩ bình thường chỉ bắn được 4-5 quả) vào các lô cốt địch, tạo điều kiện để đồng đội xông lên đánh chiếm cứ điểm. Trong chiến đấu, mặc dù đã bị thương đến lần thứ ba nhưng anh vẫn kiên cường bám trận địa và luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Tình cảm mẹ con kết nghĩa vô cùng trân quý này đã bồi thêm sức mạnh để Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Thọ tiếp tục sự nghiệp vinh quang trong Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn năm 1975. Từ năm 1977, anh làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào liên tục 10 năm rồi nghỉ hưu với quân hàm Trung tá. Mẹ Trịnh Thị Liền, từ năm 1975 đến khi nghỉ hưu năm 1996 đã đảm nhiệm các chức vụ: Chính trị viên Xã đội Đại Quang, Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Đại Lộc, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Đại Quang. Cùng với được tặng những phần thưởng cao quý khác, hai mẹ con Trịnh Thị Liền-Phạm Văn Thọ cùng được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân vào năm 1978.

Năm 1984, nhân kỷ niệm 40 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12), mẹ con Trịnh Thị Liền-Phạm Văn Thọ là hai đại biểu trong 10 Anh hùng LLVT nhân dân về Hà Nội gặp mặt các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Sau gần 10 năm mẹ con mới gặp lại nhau, ai nấy đều rưng rưng xúc động, ôn lại kỷ niệm xưa...

Do mắc bệnh hiểm nghèo, Anh hùng LLVT nhân dân Trịnh Thị Liền qua đời năm 1998. Còn cựu chiến binh Phạm Văn Thọ hiện cư trú tại phường Hải Lĩnh. Dù bộn bề công việc trong xây dựng quê hương, chăm lo hoạt động nghĩa tình đồng đội và tham gia giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, trong ông vẫn luôn lấp lánh những kỷ niệm của hai mẹ con. Đó là động lực giúp ông tiếp tục phát huy mạnh mẽ phẩm chất anh hùng trong phong trào thi đua yêu nước và các phong trào ở địa phương.

PHẠM XƯỞNG