Tốt nghiệp trung cấp giao thông, ngày 1-8-1964, tôi được tuyển vào Quân đội. Tháng 9-1965, tôi được cử đi học ở Trường Sĩ quan Công binh. Ra trường mang quân hàm Chuẩn úy. Đầu tháng 2-1966, tôi được điều vào Bộ tư lệnh 559.
Hành quân vào Quảng Bình, theo Đường 12A vượt đèo Mụ Giạ, qua cửa khẩu Cha Lo đến một hang đá có địa danh khi đó gọi “Rô năm mươi” (050) trên đất Lào. Đây là điểm dừng chân đầu tiên của tôi khi vào Trường Sơn. Hai ngày sau, tôi được biên chế về làm cán bộ kỹ thuật Đại đội 335, Đội 33 TNXP Ninh Bình, Công trường 128. Lúc này Đại đội 335 đóng quân ở khu vực Ka Tốc thuộc huyện Bualapha, tỉnh Khăm Muộn, Lào. Công trường 128 là đơn vị trực thuộc Bộ tư lệnh 559, phụ trách xây dựng nửa phía Tây Đường 20, từ Lùm Bùm đến sông Ta Lê.
Tôi là sĩ quan được Bộ tư lệnh 559 điều động về tăng cường cho Đại đội 335. Đường 20 đã thông xe vào cuối tháng 5-1966 nhưng là đường quân sự làm gấp, xe di chuyển trong mùa mưa vô cùng khó khăn. Lực lượng của Công trường 128 thời điểm này chuyển sang nhiệm vụ bảo đảm giao thông. Công việc hằng ngày của Đại đội 335 là phá đá, san lấp ổ gà, mở rộng nền đường, chống trơn lầy và sửa chữa ngầm. Nhiệm vụ của tôi là hướng dẫn mọi người làm những công việc đó.
Chống chiến tranh hiện đại của Mỹ vẫn cần đến những con người cần mẫn, với những công việc thủ công, đơn giản như thế. Tất cả đều bằng sức người. Đại đội 335 ngày đó gần trăm người, đa phần là nữ, hầu hết còn rất trẻ, vui vẻ, hồn nhiên. Đơn vị đóng quân chủ yếu trong hai hang đá. Gần đường là hang ngầm, mưa không dám ở vì sợ ngập; hang khô rộng rãi nhưng xa nơi làm việc hằng ngày.
Khi máy bay Mỹ đã manh nha phát hiện ra con đường Trường Sơn, chúng bắt đầu đánh phá, ngăn chặn. Và Đại đội 335 đã có thương vong đầu tiên. Tôi vẫn nhớ như in ngày tang tóc ấy. Đó là một buổi chiều quang mây, khi cả Đại đội đang rải quân trên đường, bỗng có tiếng vè vè trên đầu. Qua vòm lá săng lẻ, tôi nhìn thấy một chiếc máy bay, nhẹ nhàng như một chiếc tàu lượn. Sau mấy vòng lượn trên đầu thì nghe một tiếng “bụp”, rồi tiếng vè vè nhỏ dần và biến mất. Vài phút sau, tốp phản lực từ đâu ập đến, gầm rú trên đầu.
Sau vài vòng quần thảo, đột nhiên cái âm thanh hỗn loạn ấy như thu lại, rít lên, xoáy vào không gian như tiếng gió xé, nghe đến rợn người. Rồi một loạt tiếng nổ đinh tai. Máy bay trinh sát OV-10 đã phát hiện và chỉ điểm cho phản lực bắn rốc két vào đội hình của đơn vị. Lúc đó tôi đang ở cách đội hình thi công khoảng trăm mét phía trước, đi kiểm tra đường để bố trí nhân lực cho ngày hôm sau.
Nghe tiếng máy bay với dấu hiệu khác thường, đoán sẽ có chuyện xảy ra, tôi chạy lên chỗ có mấy mỏm đá, nấp mình vào một khe đá hẹp. Dù trống trên đầu và trước mặt nhưng cũng thấy yên tâm hơn so với đêm gặp trận B-52 mà chui vào bụi cây ở chân đèo Mụ Giạ. Khi tiếng máy bay xa dần thì nghe có tiếng súng báo hiệu. Biết đơn vị có thương vong, tôi chạy lại đã thấy mọi người vây quanh cấp cứu cho một nữ TNXP vừa bị mảnh đạn cắt ngang hông, máu chảy đầm đìa, mặt tái nhợt đang nằm bất động trên đường. Đồng đội đã làm tất cả, nhưng không kịp nữa rồi, cô gái đã ra đi trên đường đưa về trạm cấp cứu. Một mất mát quá lớn, quá bất ngờ đến với đơn vị TNXP khi mới chân ướt chân ráo vào tuyến lửa. Đêm ấy cả Đại đội chìm trong không khí buồn đau thương tiếc.
Đầu tháng 7-1966, Đội 33 TNXP từ Ka Tốc trên đất Lào được lệnh chuyển về Công trường 20 ở phía Tây Quảng Bình. Về đây, đơn vị bảo đảm giao thông Đường 20, đoạn từ Khe Diêm đến U Bò, trong đó có trọng điểm cua tay áo cây số 32. Tôi vẫn là cán bộ kỹ thuật của Đại đội 335, một thời gian sau lên phụ trách kỹ thuật của Đội 33.
Khó khăn trong cuộc sống thường ngày cùng sự khốc liệt của chiến tranh và sự thiếu vắng tình cảm đã gắn kết chúng tôi thành một gia đình. Các cô gái vẫn hồn nhiên đùa vui thế nhưng đêm đến, lúc riêng tư không ít người đã khóc thầm. Thường thì đêm đi làm, sáng ngủ, chiều chơi. Gặp hôm mưa, nghỉ cả ngày, tha hồ mà chơi tú, cờ tướng, hát nghêu ngao; hoặc trêu chọc nhau từ lán nọ chõ sang lán kia; lặng lẽ hơn thì nằm đọc thư cũ cho đỡ nhớ nhà, nhớ bạn. Trong số những giọng hát “nghêu ngao” đó, sau này có người trở thành ca sĩ không chuyên như Phạm Ngọc Huệ. Ngọc Huệ có mái tóc dài, xinh gái và biết chơi cờ tướng. Huệ hay hát và hát rất hay bài "Quảng Bình quê ta ơi"-một ca khúc mới ra đời rất nổi tiếng của nhạc sĩ Hoàng Vân hồi đó.
Những lúc rỗi, chị Dung-phụ trách hậu cần-vận động mọi người làm bánh lá cải thiện. Mới đầu còn lẻ tẻ, sau thành phong trào. Công nghệ làm bánh cũng rất dã chiến: Gạo ngâm để ráo, cho vào mũ sắt giã, làm thành bột; nhân bánh là mộc nhĩ với thịt hộp; gói bằng lá dong, lá chuối rừng, đem luộc. Cứ thế, chiều nào cũng có tiếng chày giã gạo khuơ lốc cốc vào mũ sắt, nghe đến vui tai.
Những ngày đầu về đây, cả đơn vị triển khai đào hầm dọc tuyến. Đào hàm ếch vào mái ta luy hoặc đào theo hình chữ Z, có 2 cửa lên xuống lệch nhau. Đoạn qua trọng điểm phải làm hầm chữ A kiên cố. Hầm chữ A bằng gỗ tròn ghép lại tạo thành kết cấu khung cứng, bom nổ gần có khi vẫn không bị sập.
Một đêm đang làm ở cây số 32 thì bom nổ từ phía vách đá U Bò cách đó không xa. Một quầng lửa chớp đỏ rực trời. Tiếng bom vọng qua vách đá nghe đinh tai, lộng óc. Tôi vừa nhảy xuống hầm, chưa kịp xoay thế ngồi thì một người khác cũng nhảy ào xuống theo làm tôi giật mình. Ngớt tiếng máy bay, tôi lóp hóp lên khỏi hầm, đi kiểm tra, điểm danh từng người. Thật may, nhờ có những căn hầm đó, tất cả đều an toàn.
Tháng 12-1966, tôi chia tay Đại đội 335 đi làm Đại đội phó Đại đội 4, Đội 25. Một thời gian sau, Ngọc Huệ cũng được điều lên Cục Chính trị, Bộ tư lệnh 559. Nhắc đến nữ "ca sĩ" ở đội văn nghệ xung kích này, mọi người đều biết vì những chuyến đi biểu diễn phục vụ các đơn vị ở những trọng điểm đạn bom ác liệt. Không ngờ, trong một lần đi biểu diễn, Ngọc Huệ đã mãi mãi nằm lại với rừng...
Tuy chỉ ở Đại đội 335 hơn 10 tháng, nhưng đó là những ngày tháng đầu tiên của tôi ở Trường Sơn. Những kỷ niệm vui, buồn, những khuôn mặt thân thương của đồng đội đã đi vào ký ức. Để rồi, mỗi khi nghĩ đến họ, tôi lại tự hỏi mình: Giờ ai còn, ai mất và cuộc sống của họ ra sao?
Ngày 7-7-2015, tôi bỗng gặp lại cô y tá của Đại đội 335 ngày ấy là Hoàng Thị Minh Nụ khi cùng đến điều trị tại một cơ sở tư nhân. Chúng tôi nhận ra nhau và cùng ôn lại chuyện chiến trường, chuyện về những trận bom và nữ đồng đội đã hy sinh năm ấy. Khi tôi thú thực là bây giờ không nhớ nổi tên con bé, thì Minh Nụ ngạc nhiên: “Anh quên rồi sao! Nó tên là Yên, còn trẻ lắm, mới 17 tuổi đời. Vết thương nặng quá, em không cầm được máu, đành bất lực nhìn Yên ra đi. Yên cùng họ với anh đấy”... Minh Nụ nói trong rơm rớm nước mắt. Đầu óc tôi như sáng ra, thôi đúng rồi “là Phạm Thị Yên”.
Đại tá PHẠM NGỌC VŨ