Bước theo cờ Đảng

Ở tuổi gần 100, với hơn 40 năm trong quân ngũ, cuộc đời Đại tá Nguyễn Văn Vưu đã đi qua gần một thế kỷ với bao biến động của đất nước. Cuộc đời ông gắn liền với những chặng đường của cách mạng và kháng chiến, từ Việt Bắc, Tây Bắc, Điện Biên Phủ đến Trị-Thiên, Tây Nguyên, Sài Gòn-Gia Định (nay là TP Hồ Chí Minh), biên giới phía Bắc và chiến trường Campuchia. Nhưng nhìn lại hành trình ấy, ông luôn cho rằng bước ngoặt quan trọng nhất của đời mình chính là những ngày mùa thu năm 1945, khi một chàng trai ở làng quê lần đầu cảm nhận sâu sắc ý nghĩa của hai tiếng “độc lập”.

Đại tá Nguyễn Văn Vưu sinh năm 1928, quê ở xóm Trại, thôn Văn Lôi, xã Tam Đồng, vùng đất nay thuộc xã Tiến Thắng, TP Hà Nội. Tuổi thơ của ông đi qua trong cảnh làng quê nghèo khó, thiên tai, mất mùa thường xuyên đe dọa cuộc sống vốn đã thiếu thốn của người nông dân. Mùa hè năm 1945, quê ông lại phải hứng chịu một trận lũ lớn. Đê sông Hồng vỡ. Nước tràn về rất nhanh, dâng ngập tận mái nhà, biến cả làng thành một vùng mênh mông nước. Gia đình Nguyễn Văn Vưu cùng bà con phải chạy lên núi Thanh Tước tránh lũ. Một số thanh niên ở lại, trèo lên mái nhà, ngọn cây hoặc dựng chòi trên cây để trông nom tài sản. Nguyễn Văn Vưu cùng anh trai làm một chiếc chòi trên cây mít để giữ nhà.

leftcenterrightdel
Thiếu tướng Nguyễn Xuân Hải, nguyên Cục trưởng Cục Quân nhu (Tổng cục Hậu cần) mừng thọ Đại tá Nguyễn Văn Vưu (năm 2022). 

Giữa những ngày lũ lụt ấy, một sự kiện lớn của đất nước cũng đang diễn ra ngay trước mắt người dân vùng quê. Từng đoàn thuyền của nhân dân mang theo cờ đỏ sao vàng tiến về tỉnh lỵ Phúc Yên (nay là phường Phúc Yên, tỉnh Phú Thọ). Nhân dân các làng, xã kéo đến bao vây các cơ quan của chính quyền cũ. Tại Yên Lãng (nay là các xã Tiến Thắng, Quang Minh, Mê Linh và Yên Lãng (Hà Nội), quần chúng kéo đến yêu cầu Tri phủ bàn giao ấn tín cho chính quyền cách mạng. Nguyễn Văn Vưu khi ấy mới 17 tuổi. Những ngày trước Quốc khánh 2-9-1945, không khí cách mạng lan khắp các làng quê. Buổi tối, các đoàn thể nông dân, thanh niên, phụ nữ, phụ lão, thiếu niên, nhi đồng cùng tụ họp. Những người nông dân quanh năm chỉ quen với ruộng đồng bắt đầu được nói về độc lập, về chính quyền của nhân dân và về một đất nước mà họ có quyền làm chủ.

Đối với chàng trai Nguyễn Văn Vưu, đó là những điều mới mẻ chưa từng có. Do biết chữ, từng học trường Thăng Long (Hà Nội), ông được giới thiệu tham gia chính quyền cách mạng và được giao làm Bí thư (nay gọi là phụ trách Văn phòng) Ủy ban Hành chính lâm thời xã Thống Nhất (gồm 3 thôn Văn Lôi, Cư An và Nam Cường).

Từ một thanh niên chưa từng bước ra xa khỏi lũy tre làng, Nguyễn Văn Vưu bắt đầu tham gia việc chung của xã, rồi được cử đi học và chuyển công tác lên huyện, lên tỉnh và Liên khu Việt Bắc. Ông tâm sự: “Nếu không có Cách mạng Tháng Tám, có lẽ tôi cũng chỉ quanh quẩn ở quê, cùng lắm làm một hương sư. Chính cách mạng đã mở đường cho tôi đi”.

Tháng 10-1946, Ủy ban Hành chính tỉnh Phúc Yên mở lớp hành chính đầu tiên. Thành phần chủ yếu là chủ tịch, phó chủ tịch, bí thư hành chính các xã. Với xã Thống Nhất, Ủy ban Hành chính huyện Yên Lãng chỉ định đích danh Nguyễn Văn Vưu đi học. Hội trường học tại trụ sở Ủy ban Hành chính tỉnh, học viên ăn ở trong Thành Đỏ-trụ sở Tỉnh ủy sau này. Học viên phần lớn vẫn là bạn hữu quen thuộc ở các làng, xã xung quanh, ai nấy đều phấn khởi vì được tập trung ăn học và giúp đỡ nhau học tập.

Cùng thời gian đó, Ủy ban Hành chính tỉnh Phúc Yên mở tiếp lớp học quân sự đầu tiên, đối tượng là xã đội trưởng các xã. Đang tuổi thanh niên, được sống trong không khí mới ở tỉnh lỵ Phúc Yên nhỏ bé ít người, mà có 2 lớp học cùng lúc, do đó, cuộc sống của các học viên và nhân dân trở nên nhộn nhịp. Đại tá Nguyễn Văn Vưu hồi tưởng: “Từ sáng sớm, những tiếng hô thể dục vang dội trong thị xã, rồi bước đi đều, ăn nhịp với lời bài hát: "Khỏe vì nước kiến thiết quốc gia/ Đoàn thanh niên ta góp tài ba". Tiếp đó là 1, 2, 3, 4 vang dội cả phố xá. Chương trình lớp học đủ các môn về tình hình thế giới, tình hình trong nước, tổ chức và nhiệm vụ ủy ban hành chính các cấp, những việc làm cụ thể của ủy ban... nhưng gần hai tháng trời mới hết chương trình. Tôi còn nhớ trong nội dung học có một môn gọi là "Tổ chức đám cưới đời sống mới” do chính ông Nguyễn Trọng Duệ-Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính của tỉnh giảng dạy. Ông Duệ tham gia phong trào cách mạng từ thời kỳ bí mật, ăn nói rất hoạt bát, giảng bài rất hay, học sinh dễ tiếp thu”.

Đi không biết mỏi

Những ngày hòa bình, độc lập của đất nước ngắn chẳng tày gang. Cuối năm 1946, thực dân Pháp nổ súng trở lại, cả nước bước vào kháng chiến (ngày 19-12), anh thanh niên làng Văn Lôi cầm súng chống Pháp với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” như Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi. Tháng 4-1948, Nguyễn Văn Vưu chính thức nhập ngũ, từ cán bộ mật mã của Quân khu Việt Bắc rồi lại trực tiếp chiến đấu trong đội hình Đại đoàn 316, sau đó ông chuyển sang công tác hậu cần cho đến khi nghỉ hưu.

Trong ký ức của Đại tá Nguyễn Văn Vưu, những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp ở Tây Bắc là những cung đường dốc núi hun hút, những bản làng nghèo khó và những ngày máy bay địch thường xuyên quần thảo trên bầu trời. Công việc của cán bộ hậu cần không chỉ là tính toán từng cân gạo, cân muối. Họ phải bám làng, bám bản, vận động nhân dân, tổ chức thu mua, khai thác lương thực, thực phẩm; tìm cách đưa hàng đến với bộ đội qua những cung đường hiểm trở. Nhiều chuyến đi phải vượt qua những vùng đất trống, nơi máy bay Pháp thường xuyên kiểm soát.

Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, song dòng sông Bến Hải với vĩ tuyến 17 là ranh giới tạm thời chia cắt đất nước 21 năm. “Xa nhau chỉ một mái chèo/ Mà đi trăm núi vạn đèo tới đây”, câu thơ của nhà thơ Thanh Hải khi ra thăm miền Bắc đã nói thay tấm lòng của người dân cả hai miền Nam-Bắc. Và rồi, người cán bộ hậu cần quê làng Văn Lôi ấy lại ba lô trên lưng, tạm chia tay gia đình, để lại vợ trẻ và 5 con thơ dại đi mở những tuyến hậu cần dọc dải Trường Sơn-Tây Nguyên, mượn đường bên nước bạn Lào... 

Cuộc kháng chiến trường kỳ đến ngày thắng lợi, non sông thu về một mối, nước non liền một dải. Năm 1990, Đại tá Nguyễn Văn Vưu nghỉ hưu trên cương vị Phó cục trưởng Cục Quân lương.

Hưu mà chưa nghỉ, về với quê hương Văn Lôi, sống với bà con hàng xóm nơi chôn rau cắt rốn của mình, ông phát động phong trào làm kinh tế VAC, phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, tổ chức chi hội và lập quỹ khuyến học của dòng họ Nguyễn xóm Trại, vận động thành lập Ban liên lạc đảng viên lão thành trên địa bàn huyện Mê Linh (cũ) và Ban liên lạc chiến sĩ bị địch bắt tù đày tại trại giam Nhà Tiền (Hà Nội)...

Chuẩn bị đón nhận Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng, hằng ngày, Đại tá Nguyễn Văn Vưu vẫn tập thể thao để rèn luyện sức khỏe, nghe đài, xem ti vi, đọc báo... cập nhật tin tức thời sự trong nước và thế giới thường xuyên. Ôn lại tuổi trẻ của mình, ông đọc cho chúng tôi nghe mấy câu thơ ông sáng tác: “Tôi lớn lên trong mùa thu cách mạng/ Trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ/ Đảng soi đường dìu dắt tôi đi/ Tôi đi mãi, đi không hề biết mỏi”.

Bài và ảnh: QUANG VIỆT - PHẠM TUẤN