Nhiều khi nghe giọng nói của con giới thiệu trên sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam một tác phẩm nào đó, một ca khúc của một tác giả nào đó, tôi lại nhớ mới hồi nào, năm 1966, vợ chồng chúng tôi bịn rịn chia tay Quyên, mới 5 tuổi, để lên đường vào chiến trường Tây Nguyên. Cháu ở lại Hà Nội và trong suốt thời gian xa cách với bố mẹ, cháu đã nhận được sự chăm sóc chu đáo, tận tình của gia đình nhạc sĩ Huy Thục, người anh em cọc chèo với tôi.
Hôm lên đường rời Hà Nội, trời mưa rào nhẹ. Chuyến đi lần ấy, ngoài vợ chồng tôi cùng 9 nghệ sĩ Đội Xung kích nghệ thuật, Đoàn Ca múa Tổng cục Chính trị, do nghệ sĩ Trần Chất dẫn đầu còn có họa sĩ Quang Thọ và nhà văn Nguyễn Trọng Oánh-hai cán bộ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Tất cả 13 người ngồi bó gối trong thùng xe của chiếc xe tải quân sự, quanh mình là ba lô, bao gạo, cà mèn, ống cóng đựng mắm ruốc, bi đông, súng và nhạc cụ...
Chiếc xe chạy tới Hà Tĩnh thì dừng lại tạm biệt chúng tôi rồi quay đầu trở về Hà Nội. Chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình đi bộ dọc Trường Sơn tới Tây Nguyên sau hai tháng trời ròng rã.
Mệt nhọc, vất vả và căng thẳng trước bao nhiêu hiểm nguy: Những tọa độ bom, những điểm dễ bị phục kích, những khúc sông nước chảy xiết, có chỗ phải bám vào dây song mà bơi qua, những đoạn đường chênh vênh bị sạt lở ngay trên bờ vực... Chúng tôi đã vượt qua tất cả, nhưng có một day dứt mà suốt cả 15 tháng trời ở chiến trường cứ âm thầm bám riết vợ chồng tôi: Nếu cả hai chúng tôi hy sinh thì con sẽ sống ra sao? Đã đành mình hy sinh không hề nuối tiếc, nhưng quả thật thương con vô cùng, vì cháu còn bé quá!
    |
 |
| Nhạc sĩ Doãn Nho biểu diễn nhạc cụ ở chiến trường. |
Theo kế hoạch, chúng tôi biểu diễn ở một số trạm khách-nơi quân ta dừng chân nghỉ sau một ngày hoặc một đêm hành quân. Ở đâu cũng gặp những gương mặt lính trẻ rất đẹp trai, khỏe mạnh và yêu đời, luôn luôn vui vẻ vỗ tay hát cùng chúng tôi.
Vậy mà dọc đường đi, không ít trong số họ đã gục ngã vì sốt rét ác tính. Có cậu vì không có kinh nghiệm, tụt lại phía sau rồi rẽ vào lùm cây bên đường nằm nghỉ chờ dứt cơn sốt, cuối cùng lịm đi lúc nào không biết; mấy ngày sau đơn vị tìm thấy, rất may đã được cứu sống. Có cậu khi dứt cơn sốt không còn nhận ra phương hướng, cố đứng dậy đi nhưng càng đi càng lạc, sau ráng hết sức trèo lên ngồi ở một chạc cây tránh thú dữ và hy vọng sẽ nhìn thấy đồng đội đi qua. Cuối cùng đồng đội cũng tìm thấy, nhưng chỉ còn da bọc xương, khi bế xuống chỉ còn nhận ra sự sống ở đôi mắt mở to...
Trong Đội Xung kích nghệ thuật, anh Trần Chất bị sốt cao và kéo dài nhưng vẫn ráng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Anh bị sụt 20kg, về sau giọng bị hỏng không còn hát được nữa.
Chiến trường dĩ nhiên ác liệt và gian khổ, nhưng chị em phụ nữ thì lại càng phải chịu đựng nhiều khó khăn, vất vả hơn. Mùa mưa khổ vì thừa nước, chỗ người ở cũng là nơi rắn rết, bọ cạp tìm đến trú ngụ. Mùa khô, số lần địch tấn công và oanh tạc tăng vọt, phải di chuyển nhiều và không ít lần khổ vì thiếu nước. Nhưng cái khổ dai dẳng thường trực là nỗi nhớ con. Có lần về biểu diễn ở hậu cứ (giáp ranh biên giới Campuchia-nơi sau này thành hậu cứ của FULRO) nhìn thấy đàn gà con quấn quýt bên gà mẹ, vợ tôi cùng hai bạn nữ trong đội không ai bảo ai đều quay mặt đi khóc giấu.
Vào chiến trường cùng với Đội Xung kích nghệ thuật, nhưng do yêu cầu thâm nhập thực tế sâu hơn nên tôi thường tách ra đi một mình xuống các đơn vị chiến đấu. Một lần, tôi cùng đại đội vận tải gùi hàng qua sông Pô Cô, đến chặng dừng chân chuẩn bị vượt sông, tôi gặp người bạn cùng học khóa VI Trường Lục quân Việt Nam (1950-1951), đó là anh Đồng Thoại (sau này anh trở thành Phó cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu).
Anh Thoại kéo tôi vào hầm, bóc gói cà phê chiến lợi phẩm pha cho tôi uống rồi bắt tôi kể hết mọi chuyện ở Hà Nội. Anh hứa sẽ bố trí cho tôi sang sông vào chuyến sau. Câu chuyện đang dở dang thì B-52 rải thảm dọc theo bờ sông, cả đại đội vận tải đang vượt sông gần như bị xóa sổ. Khi điểm danh những người còn lại không thấy có tôi, vì thế, đơn vị báo về Bộ chỉ huy tiền phương là tôi đã hy sinh. Tin này đến Đội Xung kích nghệ thuật, anh Trần Chất bàn với mọi người tìm cách giấu kín, không cho vợ tôi biết. Đến biểu diễn ở đơn vị nào đều có sự thông báo trước để không ai nhắc tới tin này. Hôm tôi trở về đội, anh em ôm chầm lấy tôi, reo hò ầm ĩ, lúc đó vợ tôi mới biết và lần này không cần giấu giếm, vợ tôi đã khóc rất to, vừa khóc vừa trách mọi người đã giấu mình.
Chuyến đi này, tôi viết được một số bài, trong đó có “Quả bom câm” (ca dao của Nghiêm Đa Văn và tôi), “Tây Nguyên mừng đón thơ Bác” (phổ thơ Bác Hồ và phát triển dân ca Hrê), “Tiếng hát trên đường thồ” và “Chị em ta đi làm nương cách mạng” (với bút danh Ánh Quyên). Khi biết chuyện chết hụt của tôi, lính ta đã hóm hỉnh chuyển lời ca “Quả bom là quả bom câm. Mi chui mi rúc mi nằm hố sâu” thành “Quả bom là quả bom câm. Làm cho nhạc sĩ Doãn Nho giật mình!”.
Hoàn thành chuyến đi, chúng tôi trở về Hà Nội đúng 2 giờ sáng ngày 1-1-1968, để rồi sau đó nhập cuộc cùng các đồng nghiệp ở Thủ đô tham gia đợt sáng tác và biểu diễn theo nhịp Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.
Vợ tôi cùng hai bạn gái trong Đội Xung kích nghệ thuật trở về với công việc đời thường của gia đình tại khu tập thể đoàn ca múa.
Thời gian trôi... Sau chừng một năm, vợ tôi sinh cháu thứ hai. Chúng tôi đặt tên cháu là Doãn Trường Nguyên với ngụ ý tự hào và nhớ mãi chuyến đi Trường Sơn-Tây Nguyên. Sau này Trường Nguyên trở thành Nhạc trưởng, Chỉ huy dàn nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam. Cháu may mắn không bị ảnh hưởng bởi chất độc hóa học, nhưng hình như để được như vậy thì mẹ cháu lại phải gánh chịu cái u xơ trong dạ con hình thành từ sau chuyến đi dần chuyển thành u ác, đến năm 1989 phải mổ và cắt tại Viện Quân y 108 (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108).
Sau khi Bệnh viện K xác nhận, một bác sĩ nói nhỏ với tôi, chị chỉ có thể qua được 6 năm. Riêng bác sĩ Minh-người trực tiếp làm phẫu thuật, người bạn đã công tác nhiều năm tại chiến trường Tây Nguyên-cho chúng tôi biết: Trời cho phụ nữ một may mắn là ung thư dạ con thường di căn rất chậm, thậm chí chỉ bộc lộ sau mươi, mười lăm năm. Nghe vậy, vợ tôi cười: Được thế là thọ rồi còn gì!
Và thời gian cứ trôi...
Doãn Mai Hương là con gái út của gia đình, kém anh Doãn Trường Nguyên 7 tuổi và kém chị cả Doãn Ánh Quyên 15 tuổi. Hồi nhỏ, Mai Hương vẫn được anh Nguyên và chị Quyên bế đi chơi trong khu tập thể. Sức khỏe tốt và lớn nhanh, khi trưởng thành đã cao hơn chị Quyên! Rất thông minh nên sau khi tốt nghiệp Nhạc viện Hà Nội (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam) chuyên ngành Gõ Giao hưởng đã trở thành giảng viên của Học viện, cho tới nay vừa giảng dạy vừa đi biểu diễn ở nhiều nước trên thế giới.
Đại tá, nhạc sĩ DOÃN NHO