Lâu nay, ông vẫn được gọi với cái tên trang trọng, Thiếu tướng, nhà văn Nguyễn Chí Trung. Nhưng với những người thân thương, thường gọi ngắn gọn là “ông”. Và ông thích điều đó. Chỉ một từ đó thôi, bằng tone giọng khác nhau lại là dấu hiệu ông nhận biết từng người, biết người đó đang vui hay đang buồn.

Những ngày đầu tôi gặp ông là những ngày ông vừa nhận Giải thưởng Văn học ASEAN cho tiểu thuyết "Tiếng khóc của nàng Út" năm 2011. Khi ấy, ông viết nhiều và trả lời báo chí cũng nhiều. Thoạt đầu tôi nghĩ đó là sự bận rộn của một nhà văn vừa nhận giải thưởng lớn. Nhưng sau này, tôi nhận ra đó là nhịp sống của cả một đời ông. Một đời luôn cảm thấy thời gian không đủ để làm hết những điều mình muốn cho đất nước, cho nhân dân.

Ông đi nhiều và nhanh. Ông nhanh cả trong cách nghĩ là làm. Ông như một mũi tên khi đã nhắm tới đích là tiến thẳng. Nhìn vào nhịp sống và những vùng đất ông đi qua, tôi đã đặt câu hỏi, liệu nơi nào sẽ là vùng đất có thể giữ chân ông?

Tôi từng nghĩ, vùng đất bình yên với ông có lẽ là ở xứ chùa tháp khi ông trở lại và gặp gỡ những người bạn cũ cùng nói, cùng cười và cùng chung chí hướng, khi ông đi thăm những “người dưng” ở làng Piêm-kos-sơ-na (một làng thuộc tỉnh Kông Pông Chàm, Campuchia) xa xôi, nơi cách trung tâm thành phố trên dưới 300 cây số, sau khi đã vượt qua những con đường ngoằn ngoèo để tới với họ. Một chuyến đi ngẫu nhiên nhưng đầy ý nghĩa khi người dân nơi đây biết ông vốn là Quân tình nguyện Việt Nam, người già thì hồ hởi lấy ghế cho ông ngồi, đem nước ra mời ông và kể chuyện cho ông nghe. Khi ra về, họ không quên nắm tay ông và nói rằng, nhờ có Quân tình nguyện Việt Nam, họ mới được hồi sinh như ngày hôm nay. Một phụ nữ khoảng 40 tuổi, nhanh nhẹn hái trái dừa tươi để ông đem về làm quà. Còn các em nhỏ trong làng thì vui đùa với ông như đón người ông xa nhà.

Với trẻ nhỏ, ông luôn dành một vị trí đặc biệt. Dù bận đến mấy, vội đến mấy, ông cũng dừng lại mà chơi mà đùa. Chẳng vậy mà khi ông chìa tay ra, một em nhỏ chỉ mấy tháng tuổi chưa gặp ông bao giờ lại bấu lấy đòi ông bế.

leftcenterrightdel

Nhà văn Nguyễn Chí Trung. 

Ông có niềm tin mạnh mẽ vào ân tình từ “người dưng”. Đúng. Ông không có gia đình riêng. Những người thân với ông thực chất là xuất phát từ tình cảm của “người dưng” mà thành. Từ thương, rồi nhớ, rồi thân. Cứ thế mà những khoảnh khắc, câu chuyện đẹp, thâm tình được tạo ra từ đó.

 Về sau, tôi lại nghĩ rằng, hình như đất Quảng chính là vùng đất giữ được chân ông, khi tôi thấy ông ngồi trước biển ăn bắp ngô luộc giản dị và hiền hòa. Đó là món ăn ông yêu thích. Như một thông lệ, cứ về tới đây là ông lại ăn cho được một bắp ngô. Đó là khi chuẩn bị viết một tác phẩm mới, ông lại nghĩ tới chuyện tìm một chỗ để về đất Quảng viết cho xong. Nơi ông ở không cần phải sang trọng, tiện nghi, đôi khi là nhà của một ai đó, miễn là ông được sống trong lòng dân.

Đó là khi tôi thấy, ông muốn đi thật chậm trên con đường bên dòng sông Vu Gia rồi trở về với làng Phương Trung, xã Đại Quang, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Hà Nha, TP Đà Nẵng), nơi những con người nhỏ bé nhưng vẫn kiên cường bám đất, bám làng dù cho ở hoàn cảnh nào. Nghe tin ông Nguyễn Chí Trung về, bà con nơi đây ùa ra đón.

Lần trở về làng Phương Trung ấy vào đúng ngày 2-6, sau Tết Thiếu nhi một ngày. Ông bảo không sao, ta chậm một ngày nhưng trẻ con trong làng lại được vui thêm một ngày. Ông xách theo hai tay nặng bánh kẹo vẫn sợ không đủ chia. Niềm vui của ông hòa vào niềm vui của những đứa trẻ nơi đây. Sự thân thuộc ấy không phải sắp đặt mà là ngẫu nhiên, bởi chuyến trở về không theo kế hoạch và không được báo trước. Trong suốt hành trình đi, ông luôn tin vào những điều diệu kỳ của sự ngẫu nhiên. Sự ngẫu nhiên cho ông cảm nhận được giá trị nhân văn, tấm lòng của những "người dưng".

Không khí của bà con nơi đây làm tôi nhớ tới cái cách mà bà con trong Đội Quyết tử trụ bám khi nghe tin ông Nguyễn Chí Trung trở lại với phường Hòa Hải (quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng) năm 2013. Đội Quyết tử trụ bám là đội được thành lập để giữ đất, giữ làng từ năm 1969 lấy thanh thiếu niên làm lực lượng nòng cốt. Đã mấy chục năm trôi qua, tóc cũng phai màu nhưng nghĩa tình còn nguyên vẹn đó. Mọi người cùng nhau tới thăm ông, gặp mặt nhau để nói chuyện xưa, chuyện nay và để ăn cùng nhau một bát mì Quảng bên dòng sông Cổ Cò. Bé nhỏ thôi mà thân tình. 

leftcenterrightdel
Thiếu tướng, nhà văn Nguyễn Chí Trung với bà con phường Hòa Hải (quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng) trong dịp kỷ niệm 44 năm thành lập Đội Quyết tử trụ bám (năm 2013). 

Tôi nhớ như in dáng hình một mệ đã ngoài 80 tuổi, đi bộ cả đoạn đường dài gần 2 cây số chỉ để tới thăm ông lúc giữa trưa. Mệ gầy mà dẻo dai. Cái dáng bé nhỏ, còng còng, con cón bước đi trên con đường nắng và gió giữa những ngày bỏng rát của tháng 6. Mệ tới chỉ để xem “người em” Nguyễn Chí Trung còn khỏe không. Những câu chuyện của mấy chục năm về trước như mới vừa diễn ra ngày hôm qua. Từ chuyện đặt tín hiệu như thế nào, tới vị trí mỗi chiếc hầm bí mật được đào để ông trú ẩn, dù cho bối cảnh đã đổi thay...

Một lý do để tôi tin rằng nơi đây đủ sức giữ chân ông chính là bởi từng rủi ro xảy ra với vùng đất này cũng làm ông đau đáu. Một lần, sau hành trình dài trở về từ Campuchia, đi Quảng Nam, Đà Nẵng rồi lên Phú Thọ mới trở về Hà Nội, hay tin miền Trung có bão, ông lại muốn đi ngay vào với bà con. Bữa tối hôm ấy chỉ có quả trứng gà luộc nhưng rồi ông đã quên ăn. Tới 8 giờ tối, quả trứng gà vẫn nằm nguyên trên đĩa. Và sau đó tôi phải trở về phòng trọ của mình. Sáng hôm sau đến sớm vì biết được bão đã tan, tôi muốn báo cho ông an lòng. Nhưng khi tôi đến, quả trứng luộc trên đĩa vẫn yên vị, còn ông thì hồ hởi đi nhanh ra báo tin cho tôi: “Bão tan rồi con ạ! Rứa là bão tan rồi”. Hóa ra suốt đêm ông không ngủ, chỉ nằm nghe tin bão ở miền Trung. Khi nghe tin bão tan, ông mới yên tâm đi chợp mắt.

Cuộc đời thì ngắn mà nỗi lo còn dài. Sau này, đi với ông nhiều hơn, chứng kiến nhiều câu chuyện, tôi mới nhận ra, ông đi qua những năm tháng chiến tranh bằng tư cách một người lính. Ông tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông tiếp tục chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Rồi lại bước vào cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam, chống chế độ diệt chủng Pol Pot. Một đời quân ngũ của ông gần như gắn liền với những cuộc chiến lớn nhất của dân tộc trong thế kỷ 20. Một người đã đi qua bom đạn, từng đối mặt với cái chết nhiều lần, gặp khó khăn hay hiểm nguy, ông vẫn chọn xông về phía quân thù mà chẳng hề sợ hãi. Điều ông sợ hãi nhất là nhân dân phải khổ, con cháu mai sau không được sống trong không khí hòa bình...

Rồi tôi nhận ra, vùng đất bình yên nhất trong tâm hồn ông không phải một miền quê hay một địa danh cụ thể. Đó là nơi ông được nhìn thấy nhân dân mình sống trong no ấm, con cháu mình lớn lên giữa hòa bình, được cười vui dưới bầu trời không còn bóng dáng chiến tranh...

Trong hành trình được làm việc bên ông, tôi thấy ông như “con tằm rút ruột làm kén”, nhưng trong đời thường, ông là một người lính Cụ Hồ rất mực giản dị. Dù đã là một vị tướng nhưng ông vẫn mặc chiếc áo sờn vai và một chiếc quần được bạn tặng đã 25 năm. Ông bước đi giữa những ký ức chiến tranh chưa bao giờ nguôi.

Năm 2016, ông ra đi ở tuổi 80 nhưng vẫn còn biết bao điều đau đáu trong lòng. Những đau đáu ấy cho tới nay vẫn chưa hề cũ, những điều ông trăn trở vẫn còn nguyên tính thời sự. Tháng 6 năm nay là tròn 10 năm ông rời cõi tạm, trên đường đi thăm mộ ông, tôi chợt nghĩ, hành trình cuộc đời của ông thực sự là một hành trình lặng lẽ nhưng hào hùng, một trái tim suốt đời đau đáu vì nhân dân, vì Tổ quốc.

Bài và ảnh: CÁT LÂM