Vẽ nên nỗi nhớ nước non
Trong lịch sử Việt Nam, cựu hoàng Hàm Nghi được biết đến là vị vua yêu nước, kiên trung, người ban chiếu Cần Vương kêu gọi người dân đấu tranh chống thực dân Pháp, rồi bị kẻ thù bắt và lưu đày tại Algeria đến khi qua đời. Nhưng phía sau số phận của một vị quân vương, ở ngài còn có một đời sống nghệ thuật mà ít người biết tới.
Gần như bị bỏ quên trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam suốt nhiều thập niên, Vua Hàm Nghi là một trong những người Việt đầu tiên tiếp cận hội họa hàn lâm phương Tây, sớm đặt những nét cọ mở đường cho mỹ thuật hiện đại Việt Nam sau này.
Vua Hàm Nghi học vẽ dưới sự hướng dẫn của họa sĩ Marius Reynaud (1860-1935), một trong những họa sĩ Pháp sống và vẽ tranh ở thuộc địa Algeria, nơi nhà vua chịu án lưu đày. Ông đã sớm thực hành hội họa theo giáo trình phương Tây. Nhưng điều đáng quý ở Hàm Nghi là dù tiếp thu kỹ thuật Tây phương, ông vẫn giữ được tâm hồn Á Đông. Tranh của ông có cấu trúc và ánh sáng kiểu phương Tây, nhưng tinh thần lại rất Việt Nam với vẻ kín đáo và sâu lắng, giàu cảm xúc.
    |
 |
Tác phẩm “Phong cảnh Algeria” của Vua Hàm Nghi.
|
Nhà nghiên cứu, giám tuyển nghệ thuật Ace Lê chia sẻ: “Có thể vì lý do chính trị, Vua Hàm Nghi đã tránh vẽ cảnh Việt Nam. Ông vẽ cảnh châu Phi hoặc Pháp, nhưng lại luôn ẩn chứa những yếu tố phảng phất gợi nhớ đến làng quê Việt. Thực dân Pháp có thể mang ngài ra khỏi Việt Nam, nhưng không bao giờ mang được Việt Nam ra khỏi Hàm Nghi”.
Từ năm 1895 đến 1902, Vua Hàm Nghi đã sáng tác ít nhất 25 tranh sơn dầu trên vải, trong đó có 17 tranh phong cảnh; có 14 bức không ký tên, 9 bức ký tên Xuân Tử, 2 bức ký tên Tử Xuân. Bức lớn nhất kích thước 49x64,5cm, bức nhỏ nhất kích thước 24x35cm. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu cho rằng có ít nhất 45 tranh sơn dầu trên vải đã được thực hiện trong giai đoạn này khi nghiên cứu một số tác phẩm chưa xác định được niên đại cụ thể.
TS Amandine Dabat, hậu duệ đời thứ năm của Vua Hàm Nghi bày tỏ: “Tranh của Vua Hàm Nghi có cấu trúc chặt chẽ, màu sắc chọn lọc, nội dung đi tìm cái đẹp của thiên nhiên, nhưng kín đáo, trầm buồn, u uẩn bởi nghệ thuật là phương tiện để thể hiện lòng hoài nhớ quê hương. Ông sáng tác nhiều tranh sơn dầu, phấn màu, điêu khắc đồng, thạch cao. Nếu như phần lớn chủ đề tranh là phong cảnh thì trong điêu khắc, nhà vua thể hiện những khuôn mặt phụ nữ hay con người qua những bức tượng bán thân. Ngài luôn luôn như một nghệ sĩ phương Tây và một nghệ nhân Việt Nam”.
Vua Hàm Nghi theo đuổi trường phái ấn tượng và hậu ấn tượng, chối bỏ sự cứng nhắc của các nguyên tắc hàn lâm cổ điển để tập trung nắm bắt cảm hứng nhất thời. Một trong những tác phẩm xuất sắc của Vua Hàm Nghi là bức tranh “Phong cảnh Algeria” sáng tác năm 1902. Đây là tác phẩm cho thấy rõ nhất về khả năng thể hiện không khí và ánh sáng của Vua Hàm Nghi về mùa đông ở Algeria.
    |
 |
Tác phẩm "Bờ rừng (hồ Geneva)" của Vua Hàm Nghi.
|
Trong bức tranh, ánh sáng mùa đông ở Algeria mang sắc vàng nhạt nhẹ nhàng nhưng bao phủ lên vạn vật. Ở phía xa, những dãy núi và cụm cây hiện lên mờ nhẹ trong làn không khí bảng lảng sương mờ. Tiền cảnh của bức tranh dày đặc những mảng màu xanh, vàng, nâu đan xen gợi chuyển động nhẹ của cỏ cây trước gió. Không có sự hiện diện của con người, bức tranh gợi một nỗi cô tịch và lặng buồn, như một khoảng không để người vẽ gửi gắm tâm trạng giữa thiên nhiên rộng lớn.
Qua cách phủ những lớp màu mỏng và xử lý các chuyển sắc tinh tế, Vua Hàm Nghi cho thấy khả năng cảm nhận và diễn tả ánh sáng đầy tinh tế, khiến khung cảnh vừa thực vừa giàu cảm xúc nội tâm.
Tác phẩm “Bờ rừng (hồ Geneva)” sáng tác khoảng năm 1920, với chất liệu sơn dầu trên toan là một trong những bức tranh cuối cùng của Vua Hàm Nghi, vẽ cảnh hồ Geneva mà ngài trực tiếp được nhìn ngắm trong vài lần hiếm hoi di chuyển từ Algeria tới Pháp để chữa bệnh. Tâm hồn nghệ sĩ của ông dường như muốn thời gian ngưng đọng để lưu lấy khoảnh khắc chóng vánh của ánh nắng chiều tà rọi qua mặt hồ.
Hàng cây ngược sáng đổ bóng xuống vệ cỏ ở tiền cảnh, cùng với mặt hồ và khoảng trời, phân chia không gian thành 5-6 lớp, tạo ảo giác về chiều sâu không gian trên tranh. Nếu mỗi bức tranh là một lát cắt tâm tư, phải chăng đây là một ẩn dụ về chặng cuối của kiếp nhân sinh, sau cuộc bể dâu, ông vẫn nhìn ra, cảm kích vẻ đẹp trong từng khoảnh khắc đã, đang và sắp vụt trôi? Trong cảnh tha hương, nhà vua ngắm nhìn trời, tán cây hay mặt hồ đều vận vào tâm tư chính mình mà phóng chiếu lên giá vẽ. Ông vẽ cảnh nhưng thật ra là vẽ tình, cả tình riêng và tình chung.
Hành trình hồi hương của các tác phẩm
Trong nhiều năm, các tác phẩm của Hàm Nghi gần như tản mát trong những bộ sưu tập tư nhân tại Pháp và nhiều quốc gia khác. Theo TS Amandine Dabat, cựu hoàng đã sáng tác hơn 100 tác phẩm trong quãng đời lưu vong ở Algeria, nhưng phần lớn bị thất lạc bởi ông thường tặng tranh cho bạn bè, người thân. Qua nhiều thế hệ trao truyền, dấu vết của chúng dần mờ đi khỏi ký ức công chúng Việt Nam.
Phải đến khoảng 15 năm trở lại đây, tranh của Vua Hàm Nghi bắt đầu xuất hiện thường xuyên hơn trên thị trường nghệ thuật tại Pháp. Từ những phiên đấu giá âm thầm, các nhà sưu tập Việt Nam dần nhận ra một di sản đặc biệt từng bị bỏ quên. Phía sau danh xưng vị vua mất nước là một nghệ sĩ thực thụ với đời sống sáng tạo bền bỉ và tinh tế. Nhiều tác phẩm sau đó được người Việt mua lại, gìn giữ và tìm cách đưa về quê hương.
Một dấu mốc xúc động của hành trình trở về ấy diễn ra vào tháng 11-2024, khi TS Amandine Dabat thay mặt gia đình trao tặng Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam tác phẩm “Những sườn đồi ở Deli Ibrahim” của Vua Hàm Nghi. Từ một bức tranh từng nằm xa đất Việt suốt nhiều thập niên, tác phẩm nay hiện diện trong không gian bảo tàng, nơi công chúng có thể chiêm ngưỡng và đối thoại với một phần đời khác của vị vua bị lưu đày.
Đồng thời, TS Amandine Dabat cùng ông Ace Lê quyết tâm thực hiện Triển lãm “Trời, non, nước”, mang di sản hội họa của cựu hoàng Hàm Nghi giới thiệu đến công chúng Việt Nam.
Hành trình ấy không diễn ra trong một sớm một chiều. Từ khi lên kế hoạch triển lãm, các nhân sự đã dành một năm rưỡi chuẩn bị các công đoạn. Ông Ace Lê chia sẻ: “10 nhà sưu tập Việt Nam đã bỏ nhiều tài nguyên và công sức để hồi hương tranh và đồng ý cho chúng tôi mượn tranh. Cùng với đó, các khâu phục chế, bảo quản, thiết kế, sản xuất và vận hành cho triển lãm đều được thực hiện bởi những người Việt, đến từ 30 đối tác với 300 nhân sự”.
Chặng dừng đầu tiên của triển lãm tại điện Kiến Trung (Huế) mang nhiều ý nghĩa biểu tượng. Giữa không gian hoàng cung xưa, nơi lưu giữ ký ức triều Nguyễn, hội họa của Hàm Nghi như thay ông trở lại cố đô mà sinh thời ông chưa từng có cơ hội quay về. Từ Huế, các tác phẩm tiếp tục hiện diện tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám (Hà Nội), với sự phối hợp tổ chức cùng Viện Pháp tại Việt Nam. Trong không gian của tri thức và văn hóa dân tộc đã mở ra một cách nhìn mới về vị cựu hoàng trong tư cách nghệ sĩ.
Ông Éric Soulier, Giám đốc Viện Pháp tại Việt Nam chia sẻ: “Triển lãm là nơi giao thoa giữa lịch sử, nghệ thuật và ký ức chung của Việt Nam-Pháp. Nhưng vượt lên ý nghĩa của một sự kiện mỹ thuật, hành trình hồi hương ấy còn chạm tới cảm xúc sâu xa hơn: Sự đoàn tụ muộn màng giữa một con người với quê hương của mình”.
Trong khoảnh khắc các tác phẩm được trưng bày tại Việt Nam, TS Amandine Dabat nghẹn ngào chia sẻ: “Cựu hoàng Hàm Nghi chưa từng có cơ hội trở về đất nước khi còn sống. Nhưng ngày nay, thông qua những bức tranh ấy, một phần tâm hồn của ông cuối cùng cũng đã được trở về nhà”.
Bài và ảnh: PHƯƠNG NGUYÊN