Ngọt ngào ký ức tuổi thơ

Hà Nội vào xuân, cánh hoa đào rung rinh trước thềm, mưa bụi li ti đọng trên kẽ lá xanh mơn mởn. Trên tấm toan, người họa sĩ không chỉ sử dụng màu sắc, đường nét, hình khối mà còn gửi gắm vào đó cảm xúc, tài năng và tình yêu hội họa.

Mở đầu câu chuyện, họa sĩ Lê Trí Dũng tự hào khi nhắc đến gia đình-cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn nghệ thuật của mình. Người thầy đầu tiên cũng là người cha tài đức vẹn toàn của anh-nhà giáo Lê Quốc Lộc, một họa sĩ sơn mài nổi tiếng, có nhiều đóng góp cho mỹ thuật đương đại Việt Nam và sự nghiệp đào tạo các thế hệ họa sĩ mỹ thuật ứng dụng. Năm 2000, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học-nghệ thuật.

Trong mùi hương trầm lắng đọng, họa sĩ Lê Trí Dũng bồi hồi nhớ lại kỷ niệm đặc biệt của tuổi thơ. Tối Ba mươi Tết Nhâm Dần 1962, gia đình anh vinh dự được đón Bác Hồ tới thăm. Khi ấy, cậu bé Dũng mới 12 tuổi, nhưng ký ức về khoảnh khắc ấy đến nay vẫn còn nguyên vẹn.

Chiều hôm đó, đại gia đình quây quần trong ngôi nhà cổ ở phố Tô Hiến Thành, Hà Nội để chuẩn bị đón xuân. Trên ban thờ bày mâm ngũ quả, kẹo bánh, lọ hoa tươi và mâm cơm cúng Tất niên. Trong thời khắc thiêng liêng ấy, khi nghe tin Bác Hồ tới thăm, mọi người vừa mừng vừa chưa dám tin. Rồi Bác bước vào, với bộ quần áo kaki quen thuộc, mái tóc bạc và nụ cười hiền hậu. Cả nhà xúc động nghẹn lời.

leftcenterrightdel

Bác Hồ thăm, chúc Tết gia đình họa sĩ Lê Quốc Lộc (năm 1962). Ảnh tư liệu do gia đình cung cấp

Bác ân cần nắm tay ông bà hai bên nội, ngoại, hỏi thăm việc chuẩn bị Tết. Quay sang người thiếu phụ trong gia đình, Bác hỏi: “Chú Lộc đâu?”.

      - Dạ, thưa Bác, nhà cháu đi Liên Xô công tác ạ!

Bác tiếp tục hỏi: “Thế nhà có gói bánh chưng không? Mỗi người có được hai cái không?”.

      - Dạ, có ạ! Dạ, được ạ!

 Những câu hỏi giản dị, mộc mạc, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Người.

Thấy cậu bé Lê Trí Dũng đứng nép bên cửa, Bác vẫy lại gần, hỏi cháu học ở đâu.

      - Dạ, cháu học sơ cấp mỹ thuật ạ!

      - Có vẽ nhiều tranh không? - Bác hỏi tiếp.

      - Dạ, cháu có ạ!

Bác bảo mang tranh ra xem. Lướt nhanh một lượt, Bác xoa đầu khen: “Giỏi lắm! Chịu khó nối nghề bố nhé!”. Rồi Người đặt vào tay cậu bé hộp kẹo vừng.

Cử chỉ ân cần, giọng nói ấm áp của Bác đã in sâu trong ký ức tuổi thơ của Lê Trí Dũng. Hộp kẹo ấy, Lê Trí Dũng chỉ để trên bàn học, không nỡ ăn, coi đó là một kỷ vật nhắc nhở mình phải nỗ lực học tập, rèn luyện. Họa sĩ Lê Trí Dũng tâm sự: “Chiếc ghế mà Bác Hồ từng ngồi trò chuyện trong buổi tối hôm ấy vẫn được gia đình giữ gìn cẩn thận”.

Ký ức ấy trở thành điểm tựa tinh thần, theo anh suốt hành trình trưởng thành và sáng tạo.

      Khúc quân hành vang mãi

Những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khẩu hiệu “Đâu cần thanh niên có” trở thành lý tưởng sống của nhiều thế hệ trẻ Việt Nam. Năm 1972, Lê Trí Dũng đang học năm cuối Trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam (nay là Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam), trước vận mệnh đất nước, anh quyết định chưa làm bài thi tốt nghiệp, xung phong lên đường nhập ngũ.

Bước vào môi trường quân ngũ, từ người lính bộ binh, anh được biên chế về Tiểu đoàn 10, Binh chủng Tăng Thiết giáp để đào tạo lái xe tăng. Cuộc sống mới có những bỡ ngỡ ban đầu, nhưng với tinh thần tự lập, anh nhanh chóng hòa nhập.

leftcenterrightdel

Tranh ngựa của họa sĩ Lê Trí Dũng. 

Trên những chặng hành quân, Lê Trí Dũng luôn mang theo cuốn sổ nhỏ để ký họa. Khi vẽ bộ đội hành quân, lúc ghi lại cảnh tăng gia sản xuất, anh lưu giữ hình ảnh những vùng đất đã đi qua và những con người từng gặp. Nhận thấy năng khiếu hội họa của anh, cấp trên điều anh lên Bộ tư lệnh Tăng thiết giáp làm công tác tuyên huấn, chụp ảnh kiêm phóng viên chiến trường, dạy mỹ thuật cho bộ đội, đồng thời phụ trách xưởng in lưới sản xuất tranh cổ động phục vụ tuyên truyền.

Năm 1974, nhân kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1974), anh được giao sáng tác tranh tham gia triển lãm toàn quân. Giữa chiến trường thiếu thốn, anh nỗ lực tìm đề tài và cách thể hiện phù hợp. Phác thảo ban đầu mang tên “Cái giá phải trả” được góp ý nên chuyển sang đề tài gần gũi với hoạt động đơn vị, tôn vinh vẻ đẹp người chiến sĩ và cổ vũ tinh thần chiến đấu. Từ những ký họa thực tế, anh hoàn thiện tác phẩm “Vượt trọng điểm”.

Bức tranh khắc họa ráng chiều hoàng hôn, một bên là vách núi cheo leo, bên kia là vực sâu thăm thẳm. Chiếc xe tăng cuốn bụi vượt khúc ngoặt, ánh thép lấp loáng dưới lớp lá ngụy trang, hiên ngang tiến vào chiến trường. Với chất liệu sơn mài truyền thống, tác phẩm được giới chuyên môn đánh giá cao và hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Chiều 30-4-1975, Lê Trí Dũng có mặt tại Sài Gòn. Trong thời khắc lịch sử ấy, anh tốc ký “Cuộc tháo chạy tháng Tư” dưới góc nhìn của một nghệ sĩ-chiến sĩ, góp phần ghi lại ký ức bằng ngôn ngữ hội họa.

Trở về đời thường, họa sĩ Lê Trí Dũng tiếp tục sáng tác. Ngoài đề tài chiến tranh cách mạng, anh có duyên đặc biệt với hình tượng ngựa. Với anh, ngựa không chỉ là vật nuôi mà còn là biểu tượng văn hóa trong truyền thuyết, phù điêu, họa tiết dân gian và không gian tín ngưỡng. Lê Trí Dũng vẽ ngựa chắc tay và đa dạng. Khi đơn lẻ, khi song hành, lúc tứ mã, bát mã. Ngựa tung bờm bên nhành mai, thư thái bên đào xuân; ngựa ẩn hiện như mây ngũ sắc; ngựa phi trong đêm thu như ánh trăng vàng; ngựa lưu luyến giữa hương sen đồng nội. Mỗi bức tranh là một câu chuyện, một khoảnh khắc, ẩn chứa nhiều cung bậc cảm xúc.

Đầu Xuân Bính Ngọ, xem tranh ngựa của họa sĩ Lê Trí Dũng càng thêm ý nghĩa. Nét đẹp ấy không chỉ mang đậm bản sắc văn hóa, mà còn gợi lên ý chí, khát vọng vươn lên của con người Việt Nam trước những vận hội mới của đất nước.

PHÙNG MINH