Cuối năm 1971, từ Hà Nội, tiểu đoàn tân binh chúng tôi được lệnh lên tàu, không phải vào Nam mà là ngược Bắc. Các cánh đồng vùng châu thổ sông Hồng, sông Cầu và cả sông Thương nước lụt vẫn ngập trắng băng. Chúng tôi hành quân lên những ngôi làng vùng sông Thương thuộc địa phận tỉnh Hà Bắc (nay là Bắc Ninh) để xây dựng thao trường luyện tập kỹ chiến thuật bộ binh. Nước sông dâng cao gây vỡ đê, ngập hàng nghìn héc-ta đồng lúa, hoa màu. Những chàng trai Hà Bắc bấy giờ phần lớn đã xa nhà, ra trận. Không có người khỏe mạnh hộ đê, chống lụt, đời sống nhân dân các làng ven sông chồng chất khó khăn, thiếu thốn.
Lúc chúng tôi được lệnh hành quân vào nhà dân ở trọ, nhiều chàng vẫn mơ mộng ngâm mấy câu thơ Tố Hữu tả cảnh bộ đội về làng: “Anh về cối lại vang rừng/ Chim kêu quanh mái gà mừng dưới sân/ Anh về sáo lại ái ân/ Đêm trăng hò hẹn trong ngần tiếng ca”... Tiểu đoàn sinh viên đến với nhân dân để tìm sự giúp đỡ, nương tựa vào dân.
Xuống tàu, chúng tôi tỏa về các thao trường Yên Thế, Quế Võ, Việt Yên, Tân Yên. Sư đoàn 325 phải cấp tốc huấn luyện cho tiểu đoàn chúng tôi thành những chiến binh thực thụ, chuẩn bị quân số bổ sung cho một chiến dịch mới. Chính trên những làng quê dọc hai bờ sông đó, chúng tôi đã được nhận những “cú hích” đầu tiên của cuộc đời. Lần đầu tiên bóp cò, nổ phát súng đầu tiên của đời lính-phát súng nhắm vào bia, tính điểm; tập gói bộc phá, ném lựu đạn gỗ và ném bộc phá vào lỗ châu mai. Cũng trên mảnh đất ấy, nhiều chàng lính sinh viên được biết nụ hôn đầu tiên, những nụ hôn vụng về, chỉ hôn vào mái tóc... Không có thời gian lẫn vật liệu xây dựng doanh trại, tiểu đoàn sinh viên đều phải ở trọ trong nhà dân. Thao trường của chúng tôi là những chân ruộng mạ, những vạt đồi bạch đàn. Đất cho thao trường lại chính là nương sắn, ruộng khoai nhân dân hiến cho bộ đội làm nơi xây dựng trận địa giả, làm chỗ lăn lê bò toài, ngắm bắn những mục tiêu di động.
Chúng tôi phải tỏa đi các ngôi làng ven bờ sông Thương, đến từng gia đình xin tre về dựng nhà ăn đại đội. Phải có tre để che mưa, che nắng bếp ăn, phải có thật nhiều tre để gọt lựu đạn, dựng khung hình lô cốt, xe tăng, để đan liếp, làm bia bắn đạn thật. Mỗi người lính phải tự túc lựu đạn giả, tự trang bị cho mình mỗi người 3 trái để tập ném. Không xin được gỗ nặng làm lựu đạn, mỗi người phải xin những cây tre tươi, ruột đặc, cưa ra từng khúc ngắn, nhét đá vào trong để tăng trọng lượng tương đương với lựu đạn thật. Mỗi ngày, tiểu đoàn phải cử một phần tư quân số đi “công tác xin tre”.
Trước chúng tôi đã có nhiều đơn vị hành quân đến, luyện tập nhiều ngày. Chính vì vậy, những bụi tre làng sau mỗi đợt bộ đội đến đóng quân lại thưa dần, nhiều bụi xác xơ. Lính được cử đi xin tre rải khắp đường làng ngõ xóm. Lính đại đội này chạm mặt lính đại đội kia chan chát. Vì không có phân công khu vực dân vận, một gia đình có khi phải tiếp mỗi ngày ba, bốn lượt các chú bộ đội đến xin tre... Tuy nhiều nhà dân dột nát, mái nhà võng xuống theo từng cơn mưa, đang chờ sửa chữa nhưng các bà mẹ trong làng vẫn để cho bộ đội những cây tre cuối cùng trong vườn, đem về làm xe tăng, lô cốt.
Nói về tình quân dân, chúng ta hay nói tới cụm từ “nhường cơm sẻ áo”. Đối với chúng tôi khi ấy, bà con không phải “sẻ áo”, vì quân trang vừa được cấp phát đầy đủ, còn rất mới. Riêng cơm ăn thì phải ăn ngô xay quá nhiều, bà con trông thấy thương tình lại luộc khoai, gói “mấy con củ” đút vào túi ba lô cóc cho chúng tôi đi hành quân xa không bị đói.
Có một tiểu đội 9 người trọ gọn trong một gia đình Công giáo có nhà xây, sân gạch, nền nếp gia phong. Buổi sáng nào bà chủ nhà cũng có một đĩa khoai 9 củ cho 9 chú bộ đội ăn lót dạ trước khi ăn ngô xay tiêu chuẩn. Cả tiểu đội vui vẻ bóc vỏ, chén rất vô tư. Đến ngày thứ 9, tiểu đội mới phát hiện ra là gia đình không hề ăn sáng, cả ngày chỉ có bữa trưa và bữa tối. Đĩa khoai đó là những củ to nhất, ngon nhất, chọn dành riêng cho bộ đội. Bữa trưa của gia đình chỉ còn lại những củ khoai hà, khoai rãi, cả nhà ăn giấu dưới bếp. Phát hiện ra điều đó, tiểu đội trưởng quỳ xuống xin lỗi. Bác chủ nhà làm dấu thánh, giải thích: “Chúa Jesus truyền báo cho bác làm điều đó. Nhà bác không có con trai, không có người ra trận tức là nhà mang nợ nước, nợ Chúa trời. Giúp bộ đội ăn no, khỏe mạnh là để bộ đội trả nợ hộ mình”.
Một tiểu đội khác có mấy chàng trai tinh nghịch thường ra vườn chuối tập phi dao găm. Sau nửa tháng đóng quân, vườn chuối héo vàng. Chỉ huy đại đội điều tra, cảnh cáo, thi hành kỷ luật cả tiểu đội bằng hình thức giữ phụ cấp binh nhì, góp lại đền tiền cho gia đình. Biết tin, bà mẹ chủ vườn lặn lội ra tận thao trường xin chỉ huy “xá tội cho mấy chú”. Mẹ bảo: “Mẹ nhìn chuối héo cũng thấy tiếc, nhưng sẵn sàng hy sinh vườn chuối, như góp một thao trường cho bộ đội luyện quân”. Hình ảnh bà bầm trong thơ Tố Hữu những năm kháng chiến chống thực dân Pháp khi ấy đã sống lại trong tâm trí các chàng lính trẻ: “Con đi mỗi bước gian lao/ Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm”...
Đầu năm 1972, tiểu đoàn chúng tôi được công nhận “tốt nghiệp” binh chủng bộ binh, chia tay nhau tỏa về các sư đoàn, các quân, binh chủng. Chúng tôi từ các ngôi làng sông Thương, sông Cầu lên đường vào chiến trường miền Nam. Lệnh hành quân trong đêm rất bất ngờ, chúng tôi không kịp chia tay với những gia đình đơn vị trú quân. Nhiều bà mẹ thức giấc, biết chúng tôi bí mật lên đường, đã hái những trái bưởi cuối cùng trong vườn đuổi theo ấn vào tay chúng tôi cùng vài lời nhắn nhủ, chúc các con chân cứng đá mềm, mau mau chiến thắng trở về. Có ngôi làng sau khi chúng tôi hành quân rời xa khoảng vài trăm mét, chợt vang tiếng khóc trong lễ truy điệu liệt sĩ của địa phương. Hóa ra mấy tháng qua, đã có hai giấy báo tử gửi về làng, nhưng các gia đình liệt sĩ xin hoãn lễ truy điệu lại một thời gian, chờ đại đội tôi lên đường đi xa đã. Bà con sợ đại đội chúng tôi dự lễ truy điệu sẽ hoang mang, dao động. Cuộc kháng chiến vẫn còn bao gian lao phía trước.
Cuộc đời người lính chiến có biết bao ngôi làng mình đã đi qua. Song, kỷ niệm sâu sắc nhất có lẽ vẫn là ngôi làng đầu tiên ta đến đóng quân, gắn với một thao trường, sau ngày nhập ngũ. Trên mảnh đất trung du Hà Bắc năm xưa, khái niệm “thao trường” trong những năm đánh Mỹ đối với chúng tôi không bó hẹp theo nghĩa một bãi tập, một trận địa giả với những bia bắn, mục tiêu vật thể. Thao trường với chúng tôi là một không gian văn hóa đậm đà tình nghĩa quân dân. Đó là một thao trường trong lòng dân-nơi tiểu đoàn tân binh chúng tôi được rèn luyện binh khí, đặc biệt là được nhân dân nuôi dưỡng tình yêu đất nước với bản lĩnh người đàn ông cầm súng. Chính cuộc sống nhân dân đã trở thành động lực thúc đẩy chúng tôi nhanh chóng chiếm lĩnh tri thức quân sự và trình độ kỹ chiến thuật, để về sau giảm được thương vong trong chiến đấu. Và chúng tôi luôn mang theo một tâm niệm: Mình chiến đấu là để bảo vệ những ngôi làng.
PGS, TS PHẠM THÀNH HƯNG