Sau Cách mạng Tháng Tám, ông làm Tổng thư ký Hội Văn hóa cứu quốc Trung Bộ. Ông nhập ngũ năm 1948, phụ trách Đoàn kịch Chiến Thắng của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và từ đó luôn bám sát, phục vụ biểu diễn cho các đơn vị Quân đội.
Nhà thơ Thanh Tịnh được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm (tức Tổng biên tập) Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1963 thay nhà văn Văn Phác vào chiến trường Đông Nam Bộ. Ông giữ chức Chủ nhiệm Tạp chí đến năm 1970 thì được nghỉ hưu. Kế nhiệm ông là nhà thơ Vũ Cao-tác giả bài thơ "Núi Đôi" nổi tiếng.
Thế hệ chúng tôi về Tạp chí Văn nghệ Quân đội khi Thanh Tịnh đã vân du thế giới người hiền hơn một phần tư thế kỷ. Nhiều câu chuyện về ông tưởng như huyền thoại, được truyền khẩu từ thế hệ này sang thế hệ khác, vô cùng đặc sắc và hóm hỉnh, trở thành những bài học hữu ích về văn học, nghệ thuật trực tiếp phục vụ đời sống bộ đội, nhân dân.
Thanh Tịnh rất nổi tiếng với thể loại “báo miệng”, mà sau này ông biên soạn và sáng lập thành bộ môn đặc sắc-độc tấu! Bộ môn độc tấu, tức thể loại tuyên truyền miệng-"báo miệng" là một chuyên ngành tuy hẹp nhưng rất độc đáo, đóng góp vào kho tàng văn học, nghệ thuật cách mạng chất dân gian và hiện đại, trực tiếp phục vụ người nghe là những chiến sĩ đang cầm súng chiến đấu và nhân dân cần lao chân lấm tay bùn, trong đó không ít người còn chưa biết chữ, nhưng ai cũng háo hức, phấn chấn thưởng thức và nhiệt liệt hoan nghênh các tác phẩm độc đáo của ông.
    |
 |
Ảnh bìa sách của nhà thơ Thanh Tịnh.
|
Thể loại độc tấu-"báo miệng" là một thành tựu rất lớn của nhà thơ Thanh Tịnh. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trên đường hành quân, trước giờ xung trận, bên bếp lửa bà con dân tộc nơi núi cao, rừng sâu, trong bãi chợ vùng giáp ranh, nơi hội trường hội nghị mỗi kỳ chỉnh quân, tuyên truyền chính sách, các bài độc tấu, tuyên truyền miệng-"báo miệng" của Thanh Tịnh đã phát huy tác dụng mạnh mẽ. Rất nhiều cán bộ chính trị, tuyên huấn, cán bộ đội sản xuất, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến sau khi nghe Thanh Tịnh trình diễn các tác phẩm độc tấu hài hước, dí dỏm đã đề nghị ông đọc chậm lại để mọi người chép vào sổ tay về học thuộc và tuyên truyền sâu rộng trong các đơn vị, đội ngũ quần chúng nhân dân.
Thanh Tịnh sau mỗi chuyến công tác tiếp xúc với thực tế, thu thập tài liệu đã sáng tác nhiều bài độc tấu mới: "Anh hùng liên lạc", "Chiến thắng sông Lô", "Trận địa lôi cây số 7 đường Hà Tuyên", "Lão dân quân Đông Bắc"... Ông một mình có thể đảm đương cả một chương trình độc tấu mấy giờ liền. Độc tấu khi đó đã thành hiện tượng của nền văn nghệ kháng chiến. Tại Hội nghị văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất (tháng 7-1948) ở huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, độc tấu của Thanh Tịnh đã được đưa ra bàn luận.
Tại hội nghị này, bản tham luận của nhà thơ về độc tấu được trình bày thẳng thắn: “Với tư cách một người làm thơ, nếu có thể làm được gì cho quần chúng công-nông-binh, những người đảm đương chủ chốt cuộc kháng chiến thần thánh và vô cùng gian khổ hiện nay-phấn khởi cười vui năm, mười phút thôi, thì việc đó có kém gấp mười lần tiếng hề tôi cũng sẵn sàng làm và coi đó là một vinh dự". Sau này, Thanh Tịnh đã tập hợp những tiết mục đó vào các tác phẩm: "Sức mồ hôi"; "Những giọt nước biển"; "Độc tấu trên đường hành quân"; "Đi giữa mùa sen"... là những sáng tác chủ chốt và rất đặc sắc của nhà thơ xứ Huế.
Thấy rất rõ một điều, một người được học hành căn bản, sớm trở thành thầy giáo, thông thạo tiếng Pháp và sớm có thành tựu trong sáng tác thơ-văn-kịch từ thời tiền chiến mà sau dấu mốc nhập ngũ năm 1948, Thanh Tịnh đã dành toàn bộ trí tuệ, thời gian và tâm huyết với thể loại độc tấu-tuyên truyền miệng-"báo miệng" chính là tinh thần và trách nhiệm của người nghệ sĩ-chiến sĩ cách mạng trong công tác tuyên truyền đang hết sức cấp bách của thời kỳ đó.
Bộ đội và nhân dân ta khi đó, nhất là ở các chiến khu, vùng đan xen giữa ta và địch, tỷ lệ mù chữ còn cao, sách, báo tuyên truyền và khả năng tiếp nhận còn nhiều hạn chế nên việc trực tiếp biên soạn và thể hiện bằng tuyên truyền miệng, xây dựng các tác phẩm văn nghệ đặc biệt-thể loại độc tấu là rất phù hợp. Nhiều bài độc tấu của Thanh Tịnh được cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta thời chống Pháp thuộc lòng càng chứng minh khao khát thưởng thức văn nghệ của bộ đội và nhân dân trong cuộc chiến đấu gian khổ. Hơn ai hết, ông thấu hiểu khát vọng đó và đã mang hết khả năng của mình để làm ra các tác phẩm phục vụ nhân dân và người chiến sĩ.
Trong những câu chuyện đã được truyền lại thành văn trong các hồi ức, kỷ niệm của nhà thơ Thanh Tịnh có câu chuyện rất xúc động về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam khi đó. Trong mỗi lần bách bộ một mình tới Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nằm gác chân trên sàn gỗ với nhà thơ đồng hương xứ Huế-Thanh Tịnh, Đại tướng đã nói về những bài độc tấu của nhà thơ luôn vang lên trong các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong khắp các trọng điểm của tuyến đường Trường Sơn huyền thoại. Vị Đại tướng lừng danh luôn lắng nghe, không ít lần đề nghị nhà thơ tiếp tục sáng tác những bài độc tấu gắn với cuộc sống, chiến đấu của nhân dân hai miền Nam-Bắc để kịp thời động viên bộ đội trên chiến trường. Đây là những khoảnh khắc tri âm, tri kỷ của hai người con xứ Huế lúc nào cũng hướng tới nhân dân, người chiến sĩ nơi tiền tuyến, luôn khát vọng sớm đến ngày thống nhất non sông.
Cá nhân tôi, khi mới khoảng 7-8 tuổi, trong những đêm hè nóng nực, oi ả tiếng ve, đã nằng nặc bắt cha tôi-một người lính chiến trở về từ Trường Sơn, đọc đi đọc lại bài tấu về chiếc áo xanh, chiếc ba lô, đôi dép cao su, chiếc mũ tai bèo trong Trường Sơn xanh hùng vĩ. Tôi cùng lũ trẻ hàng xóm trần trùng trục nhễ nhại mồ hôi, cười như nắc nẻ trước giọng đọc cuốn hút của ông thợ cày cũng trần trùng trục lấp loáng mồ hôi hằn những vết sẹo của mảnh đạn nơi chiến trường. Tôi đã nhớ đời khi cơn cười khiến tôi va vào chiếc cối đá thềm hè gãy mất chiếc răng sữa và giọng đọc tấu của cha tôi vẫn còn âm vang đến tận hôm nay.
Sự phát triển như vũ bão của các loại hình báo chí, truyền thông, mạng xã hội hiện nay đã tạo nên sức ép ghê gớm đối với mỗi người làm báo. Cuộc sống chuyển động dữ dội, nhu cầu thưởng thức các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật luôn thay đổi mạnh mẽ. Đội hình báo chí, văn học, nghệ thuật trong Quân đội đang đứng trước thời cơ lớn với những thử thách không nhỏ mà mỗi nhà văn, nhà báo phải vượt qua. Cuộc sống của người chiến sĩ ở đơn vị trong toàn quân hiện nay ngày càng sôi động và phong phú trong xã hội đang chuyển động.
Vậy loại hình độc tấu-tuyên truyền miệng-"báo miệng" có cần thiết nữa hay không? Có thể phát huy vai trò xung kích và tính hữu ích trong tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ trong Quân đội một cách linh hoạt và dễ hiểu hay không? Có cần thiết không những tiếng cười sảng khoái của bộ đội và nhân dân như cái ngày bộ đội ta, nhân dân ta chiến đấu hy sinh trong các cuộc kháng chiến của dân tộc? Những câu hỏi cứ trở đi trở lại trong tôi, nhất là mỗi khi chúng tôi nhớ về màn độc tấu-tuyên truyền miệng-"báo miệng" đã trở thành thương hiệu, đặc sản của nhà thơ Thanh Tịnh. Có lẽ nào, những đặc sản đã góp phần làm nên tiếng cười, tạo nên sức mạnh của người chiến sĩ góp vào ngày toàn thắng đến bây giờ lại dần dần trở thành dĩ vãng?
Nhà văn PHÙNG VĂN KHAI