ATK 1 không chỉ là nơi che giấu, bảo vệ an toàn cho đội ngũ cán bộ đầu não mà còn là nơi ra đời nhiều quyết sách của Trung ương chỉ đạo phong trào cách mạng, trạm trung chuyển thông tin, in ấn tài liệu bí mật; đồng thời là bàn đạp vững chắc để quân và dân ta tiến vào nội đô giành chính quyền. 

Tháng 9-1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Tại Đông Dương, thực dân Pháp tăng cường vơ vét, áp bức, bóc lột và thực hiện chính sách “khủng bố trắng” hòng tiêu diệt các tổ chức cách mạng. Mạng lưới mật thám Pháp kiểm soát gắt gao các đô thị lớn, đặc biệt là Hà Nội-trung tâm chính trị đầu não của chính quyền thực dân.

Trên cơ sở phân tích diễn biến tình hình, Đảng ta đã có những quyết định chiến lược rất đúng đắn, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu ngay từ Hội nghị Trung ương 6 (tháng 11-1939). Tháng 5-1941, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8 ra nghị quyết khẳng định: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”.

Đặc biệt, trong Thông cáo của Trung ương gửi cho các cấp bộ (16-9-1941), Ban Thường vụ Trung ương Đảng chỉ rõ: “Không có sự võ trang tự vệ nào chắc chắn bằng những tổ chức mạnh mẽ của quần chúng, một thứ áo giáp của Đảng, một thứ thành lũy của Đảng”. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã đưa ra một quyết định sáng suốt mang tính đột phá: Không đóng cơ quan lãnh đạo ở sâu trong nội thành để tránh bị bắt bớ, nhưng cũng không chuyển hẳn lên vùng núi cao để giữ thế chủ động nắm bắt thông tin nhanh chóng. Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp bàn và quyết định lập một An toàn khu của Trung ương ở xung quanh Hà Nội. Trung ương đã lựa chọn vùng: Tây Bắc Hà Nội; địa bàn giáp ranh giữa Hà Nội-Hà Đông; Hà Nội-Bắc Ninh; Phúc Yên, nằm dọc hai bên sông Hồng, sông Đuống để xây dựng hệ thống cơ sở. Địa bàn được Ban Thường vụ Trung ương Đảng xác định có thể xây dựng thành ATK 1 đáp ứng các điều kiện cơ bản: Cận kề Hà Nội, là trung tâm chính trị, kinh tế, quân sự đầu não của địch để có thể nắm bắt kịp thời tình hình; có cơ sở đảng vững chắc và phong trào quần chúng phát triển; có thế liên hoàn để xây dựng hệ thống cơ sở, giao thông liên lạc bí mật, an toàn; địa bàn có sông chảy qua, giáp ranh giữa các tỉnh...

ATK 1 được xây dựng theo chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng từ khoảng cuối tháng 9-1941. Lúc này, ATK 1 được xây dựng tại nhiều vùng ngoại thành Hà Nội như các huyện: Hoài Đức, Đông Anh; Từ Sơn; một phần huyện Gia Lâm, huyện Hoàn Long (trên đường từ Hà Nội đi Hà Đông); một số xã ngoại thị Hà Đông và Yên Lãng-Yên Phong, Bắc Ninh...

Trong một thời gian dài, ATK 1 có thể tồn tại và giữ vững an toàn ngay dưới mũi súng quân thù không phải nhờ vào địa hình hiểm trở của rừng núi, mà là nhờ “thế trận lòng dân”. Các chiến sĩ cách mạng tiền bối bằng phương châm “3 cùng” đã kiên trì tuyên truyền giác ngộ tinh thần yêu nước cho nhân dân. Tại các làng quê ven đô như: Võng La, Phú Thượng, Vạn Phúc, tổ chức Việt Minh đã xây dựng được các hội quần chúng cứu quốc như: Hội Nông dân cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc, Hội Thanh niên cứu quốc, Hội Phụ lão cứu quốc...

leftcenterrightdel

 Di tích cách mạng Nhà bà Hai Vẽ ở phường Phú Thượng (Hà Nội) hiện nay. Ảnh: XUÂN THỨ 

Nhờ phong trào quần chúng phát triển mạnh mẽ, ý thức bảo vệ cán bộ của nhân dân được nâng lên thành luật bất thành văn. Người dân sẵn sàng cải hoán nhà cửa, xây dựng hầm bí mật ngay trong buồng, dưới gầm giường hoặc luống cày để nuôi giấu cán bộ. Mỗi khi có động tĩnh từ binh lính Pháp, Nhật đi càn quét, hệ thống cảnh báo bằng tiếng mõ, tiếng trống phát ra từ đầu làng giúp cán bộ kịp thời lánh sang bờ bên kia sông Hồng hoặc ẩn nấp an toàn. Có những gia đình cơ sở do sơ suất bị mật thám Pháp phát hiện, bị tra tấn dã man nhưng vẫn kiên quyết không khai báo, bảo vệ cách mạng đến cùng như gia đình ông Ba ở làng Mạc, gia đình cụ Lý Lờ ở Võng La, gia đình ông Chiêm ở Vân Nội... Những tấm gương điển hình như bà Trần Thị Sáu, bà Hai Vẽ... đã không quản ngại hy sinh, gian khổ, trực tiếp làm liên lạc cho các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ.

Tinh thần kiên cường, chịu cảnh “nửa đêm thuế thúc trống dồn”, máu chảy đường thôn nhưng quyết không khai báo của nhân dân chính là bức tường thành vững chắc bao bọc cơ quan đầu não cách mạng. Nhờ đó, tại ATK 1, nhiều cuộc họp, hội nghị quan trọng của Thường vụ Trung ương Đảng được tổ chức, quyết định những vấn đề hệ trọng đối với vận mệnh dân tộc, đánh dấu những bước phát triển của phong trào cách mạng.

Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng (từ ngày 25 đến 28-2-1943) tại Võng La đã bàn việc mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất chống Nhật-Pháp, nêu phương hướng khắc phục hạn chế, làm cho phong trào phát triển đều khắp ở tất cả vùng nông thôn, rừng núi, thành thị, xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Chỉ thị lịch sử “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” được đồng chí Trường Chinh hoàn chỉnh tại cơ sở ở thôn Viên Nội (Đông Anh). Bản chỉ thị này được thông qua tại Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng họp ở Đồng Kỵ và Đình Bảng, Bắc Ninh (tháng 3-1945). Bản chỉ thị đánh dấu giai đoạn mới trong thời kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám.

 Ngày 19-8-1945, từ sáng sớm, Hà Nội đã đỏ rực cờ cách mạng. Đông đảo nông dân, tự vệ, công nhân, thợ thủ công... từ khắp các ngả tập hợp thành đội ngũ rầm rập tiến vào nội thành, phối hợp với các tầng lớp nhân dân Thủ đô chiếm những vị trí trọng yếu trong thành phố. Đến tối 19-8-1945, các cơ quan quan trọng của chính quyền bù nhìn đã về tay cách mạng. Việt Minh hoàn toàn làm chủ thành phố. Thắng lợi ở Hà Nội tạo nên hiệu ứng dây chuyền cổ vũ mạnh mẽ nhân dân cả nước đồng loạt nổi dậy giành chính quyền, đưa Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đến thắng lợi hoàn toàn.

Thành công xây dựng và giữ vững ATK 1 chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã để lại những bài học kinh nghiệm sâu sắc. Trước hết là việc xác định vị trí chiến lược linh hoạt, sự kết hợp giữa yếu tố bí mật của nông thôn và khả năng tiếp cận nhạy bén của đô thị. Thứ hai là nghệ thuật tổ chức mạng lưới liên hoàn, bổ trợ lẫn nhau, tạo lối thoát và bọc lót khi xảy ra biến cố. Thứ ba là xây dựng và phát huy căn cứ kiên cố nhất, an toàn nhất của cách mạng, đó chính là lòng yêu nước và sự đùm bọc của nhân dân. Đúng như đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh từng khẳng định: “Không phải cứ lên rừng núi mới là an toàn, mới có lực lượng vũ trang. Hãy cứ bám chắc vào nhân dân, vào cơ sở cách mạng là an toàn rồi. Rừng cây chưa chắc đã kín đáo bằng rừng người. Núi đá chưa chắc đã vững bằng núi người”.

Hơn 80 năm trôi qua, chiến tranh đã lùi xa, Thủ đô Hà Nội ngày nay đang vươn mình mạnh mẽ thành một đô thị hiện đại, văn minh. Những làng quê ATK 1 năm xưa giờ đây đã trở thành những địa phương có kinh tế phát triển năng động. Dẫu vậy, các căn hầm bí mật, những ngôi nhà của các gia đình có công với cách mạng vẫn được trân trọng gìn giữ như những chứng tích lịch sử vô giá. Đó không chỉ là sự tri ân sâu sắc đối với công ơn của thế hệ cha anh mà còn là lời nhắc nhở thế hệ hôm nay luôn khắc cốt ghi tâm tinh thần kiên cường, bất khuất của vùng đất ATK 1, cái nôi thầm lặng góp phần làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám-bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Thượng tá NGUYỄN HÀ HẢI