Mở ra trang sử mới cho nhân dân Việt Nam

Trước năm 1930 khi chưa có Đảng, đất nước ta nằm dưới ách thống trị, áp bức hơn 80 năm của chủ nghĩa thực dân Pháp và hàng nghìn năm của chế độ phong kiến. Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối, mở ra trang sử mới cho nhân dân Việt Nam.

Ngay sau khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo phong trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh. Mặc dù bị thực dân Pháp đàn áp khốc liệt, phong trào đã khẳng định năng lực tổ chức, lãnh đạo quần chúng của Đảng.

Bước phát triển mang tính quyết định trong tư duy lãnh đạo của Đảng là Hội nghị Trung ương 8 (5-1941). Đảng xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ tối cao, thành lập Mặt trận Việt Minh, tập hợp rộng rãi các lực lượng yêu nước. Sự điều chỉnh chiến lược này thể hiện bản lĩnh chính trị, sự nhạy bén và khả năng vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước đã đồng loạt đứng dậy, tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công vào cuối tháng 8-1945. Trong thời điểm lịch sử đặc biệt, Đảng kịp thời nắm bắt thời cơ, lãnh đạo toàn dân vùng lên giành chính quyền, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Lãnh đạo các cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện

Sau Cách mạng Tháng Tám, Đảng lãnh đạo nhân dân vừa xây dựng chính quyền cách mạng non trẻ vừa tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954). Dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, lòng yêu nước của nhân dân ta được phát huy cao độ. Muôn người như một đoàn kết, thống nhất.

Ngày 6-12-1953, tại Tỉn Keo, xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí trong Bộ Chính trị thông qua chủ trương, kế hoạch tác chiến Đông-Xuân (1953-1954), quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ý định ban đầu của ta là tập trung lực lượng để thực hiện phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh". Tuy nhiên, trước sự tăng cường phòng ngự của địch và những khó khăn của ta về kéo pháo, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định tiến hành mọi công tác chuẩn bị theo phương châm “đánh chắc, tiến chắc". Và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng đã phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc đi đến thắng lợi lừng lẫy với đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.

leftcenterrightdel

Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị tổ chức cuộc họp dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu

Giai đoạn 1954-1975, Đảng tiếp tục thể hiện vai trò lãnh đạo kiên định và sáng tạo khi lãnh đạo đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, có những thời điểm mang tính bước ngoặt, có những vấn đề mới nảy sinh chưa có giải pháp sẵn có mà cần phải sáng tạo. Một trong những thời điểm đó là khi Mỹ đưa quân vào trực tiếp tham chiến tại Việt Nam. Trên thế giới, nhiều chính phủ và những nhân vật có tên tuổi tỏ ra lo lắng cho ta, lo “ngọn lửa nhỏ (chiến tranh miền Nam Việt Nam) sẽ đốt cháy rừng (bùng lên Chiến tranh thế giới thứ ba)”; thậm chí có nước “khuyên” ta không nên đối đầu với Mỹ-một siêu cường chưa từng bị thua trận...

Trước thử thách đó, ngày 20-7-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: “Đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu; dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”. Sau đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III (tháng 12-1965) khẳng định quyết tâm, đường lối đánh thắng giặc Mỹ xâm lược: Quân và dân miền Nam hoàn toàn có khả năng tiêu diệt những đơn vị tinh nhuệ nhất của quân đội viễn chinh Mỹ, tiêu diệt những đơn vị ngày càng lớn của quân chủ lực ngụy, trong tình hình mới vẫn kiên quyết tiến lên, càng đánh càng mạnh và cuối cùng nhất định đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ.

Ngày 25-3-1975, Bộ Chính trị họp và nhận định: Thời cơ chiến lược lớn đã tới. Trong suốt 20 năm chống Mỹ, cứu nước chưa bao giờ thuận lợi như lúc này, do đó cần nắm vững thời cơ chiến lược mới, tranh thủ thời gian cao độ, nhanh chóng tập trung lực lượng vào hướng chủ yếu, hành động táo bạo, bất ngờ làm cho địch không kịp trở tay, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam càng sớm càng tốt.

Từ nhận định đó, Bộ Chính trị quyết định "quyết tâm hoàn thành giải phóng Sài Gòn và miền Nam trước mùa mưa (tháng 5-1975)". Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 241-NQ/TW thành lập Hội đồng chi viện miền Nam ở Trung ương. Ngày 31-3-1975, Bộ Chính trị đã có cuộc họp quan trọng thông qua kế hoạch tiến công giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam, với phương châm “thần tốc, táo bạo, bất ngờ”...

Ngày 7-4-1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ra mệnh lệnh cho các cánh quân tiến về Sài Gòn: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng".

Ngày 14-4-1975, Bộ Chính trị họp mở rộng và quyết định đổi tên Chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giành thắng lợi (ngày 30-4-1975), là đỉnh cao chiến thắng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 của toàn dân, toàn quân ta, kết thúc cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Đổi mới toàn diện, đưa đất nước tiến vào kỷ nguyên mới

Trong những năm đầu sau khi đất nước thống nhất, chúng ta gặp nhiều khó khăn. Trong hoàn cảnh bị bao vây, cấm vận, một mặt, chúng ta phải giải quyết hậu quả 30 năm chiến tranh, mặt khác, phải tiến hành các cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam và phía Bắc của Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế... Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân tộc quyết tâm đồng lòng vượt qua khó khăn, nhanh chóng khôi phục sản xuất, xây dựng, củng cố chính quyền trên phạm vi cả nước, ban hành Hiến pháp mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

10 năm (1975-1985) cả nước tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội là 10 năm Đảng ta tìm tòi con đường đổi mới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đánh dấu bước ngoặt đổi mới toàn diện đất nước. Đảng đã dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, đổi mới tư duy kinh tế, chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, năm 1991, trong bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu tan rã, Liên Xô đứng trước sự sụp đổ, song Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều này thể hiện rõ bản lĩnh chính trị kiên cường, sự kiên định con đường cách mạng đã lựa chọn của Đảng và nhân dân ta.

Thực tiễn 40 năm đổi mới đã chứng minh năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn của Đảng-một yếu tố cốt lõi bảo đảm vai trò lãnh đạo bền vững của Đảng trong điều kiện hòa bình và hội nhập quốc tế. Và lịch sử cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay cũng đã chứng minh một cách nhất quán và thuyết phục rằng: Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vai trò lãnh đạo đó được hình thành từ yêu cầu khách quan của lịch sử, được khẳng định bằng những thắng lợi cách mạng to lớn, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại!”. 

Chúng ta tin tưởng rằng, với những bài học kinh nghiệm trong tiến trình lãnh đạo cách mạng và những thành tựu đã đạt được, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng sẽ đề ra các chủ trương, quyết sách đúng đắn mang tính đột phá để đưa đất nước ta tiến vào kỷ nguyên mới, với sự phát triển nhanh và bền vững.

Thượng tá NGUYỄN HÀ HẢI