Tầm ảnh hưởng rộng lớn và giá trị trường tồn của mỗi người trong số họ phụ thuộc vào những dấu ấn nổi trội mà họ đã tạo ra để lay động, thức tỉnh, soi sáng vào tâm hồn, lẽ sống, niềm tin cho những người cùng thời và cho hậu thế.

Người ta đã và sẽ còn tốn nhiều công sức để thảo luận, tranh luận về tầm ảnh hưởng của Karl Marx và Friedrich Engels đối với sự phát triển của nhân loại từ thế kỷ thứ 19 về sau. Sự đánh giá đó có thể khác nhau tùy theo tầm nhìn, giác độ, chỗ đứng và tâm trạng của những người nghiên cứu. Song có một điều hiển nhiên, không ai có thể phủ nhận được là sự đóng góp to lớn của K.Marx và F.Engels vào dòng chảy chung của văn hóa nhân loại nếu ta hiểu văn hóa là sự sáng tạo, đổi mới và phát triển; là những cái thuộc về lòng nhân ái, vị tha, sự sáng suốt và lòng dũng cảm đấu tranh cho cái thiện và cái đẹp; là cách mạng, cách mạng không ngừng để chống lại những gì mất nhân tính, thiết lập quan hệ ứng xử giữa con người với con người trên đỉnh cao của tình nhân ái.

Lịch sử văn hóa, văn minh nhân loại đã xác định tình bạn (bằng hữu) là một trong những mối quan hệ cơ bản nhất của xã hội. Một trong những dấu ấn văn hóa đặc sắc mà F.Engels để lại cho nhân loại là tình bạn, tình đồng chí mẫu mực giữa ông và K.Marx.

leftcenterrightdel
Karl Marx và Friedrich Engels. Ảnh tư liệu

Friedrich Engels sinh ngày 28-11-1820 tại thành phố Barmen, tỉnh Rhine, Vương quốc Phổ (nước Đức ngày nay) trong một gia đình tư sản sùng tín tôn giáo. F.Engels từng là một học sinh đầy mơ mộng, một chàng trai giàu lòng nhân đạo, nồng nhiệt, yêu tự do, đã dùng thi ca làm vũ khí biểu lộ sự đồng tình với nhân dân và khát vọng tương lai. Tốt nghiệp tú tài, F.Engels vâng lời cha thôi học, theo nghề kinh doanh thương mại. Những quan sát xã hội và hoạt động thực tiễn đã làm biến chuyển thế giới quan và tư duy chính trị của ông. Từ con đường tự học, học trong sách báo, trong các câu lạc bộ bác học, trong tổng kết thực tiễn và trong sự phẫn nộ với xã hội đương thời, F.Engels đã trở thành một nhà bác học. Trên con đường học tập và nghiên cứu, F.Engels đã gặp Karl Marx một cách gián tiếp thông qua đọc các tác phẩm của K.Marx. Dần dần từ việc nghiên cứu triết học, kinh tế chính trị học, hai ông đã tìm đến nhau rồi trở thành những người đồng chí-những người đồng sáng lập nên một học thuyết cách mạng dẫn đầu thời đại.

Karl Marx sinh ngày 15-5-1818 ở thành phố Trier thuộc tỉnh Rhine, trong một gia đình trí thức (cha ông là luật sư). Từ nhỏ, ông đã được giáo dục và hun đúc trong tinh thần khai sáng của chủ nghĩa tự do, nhân đạo và lý tính. Ông tốt nghiệp tú tài rồi vào học Khoa Luật tại Trường Đại học Tổng hợp Born, sau chuyển sang học Trường Đại học Berlin, một trung tâm nghiên cứu về triết học. K.Marx đã bảo vệ xuất sắc luận án Tiến sĩ triết học, rồi vừa nghiên cứu vừa tổng kết thực tiễn, ông cùng với F.Engels sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học.

Hai con người xa lạ, từ những hoàn cảnh xuất thân, môi trường giáo dục và quá trình đào tạo rất khác nhau đã trở thành hai người đồng chí rồi thành hai người bạn, một tình bạn vĩ đại và cảm động, gắn quyện tình đồng chí sắt son chung thủy tới mức sau khi K.Marx qua đời, F.Engels đã đề xuất rằng những công trình sáng tạo riêng cũng như những công trình hợp tác chung của hai người nên lấy tên là học thuyết Marx.

Lần hợp tác lý luận đầu tiên giữa K.Marx và F.Engels là tháng 8-1844 ở Paris. Không giống như một lần gặp mặt trước đó diễn ra rất lạnh nhạt, lần này thì hoàn toàn khác vì đã đọc của nhau một cách rất cẩn trọng nên đã “yêu nhau vì nết, trọng nhau vì tài”. Sau này, F.Engels đã kể lại rằng: “Vào mùa hạ năm 1844, khi tôi đến thăm K.Marx ở Paris, chúng tôi thấy rằng chúng tôi hoàn toàn nhất trí với nhau về tất cả các vấn đề lý luận và chính từ lúc đó, chúng tôi bắt đầu cộng tác với nhau”(1). Cuộc gặp gỡ ở Paris không những đã xây dựng tình bạn của hai ông vì mục tiêu chung, mà bằng công việc của mình, các ông đã hỗ trợ nhau rất nhiều khiến thiên tài và trí tuệ của mỗi người bổ sung cho nhau một cách rất kỳ diệu. Do đó, ý nghĩa của cuộc gặp gỡ tại Paris là ở chỗ: Một mặt, đối với sự ra đời của lý luận cách mạng của giai cấp công nhân, nó mang ý nghĩa đáp ứng nhu cầu của thời đại; mặt khác, xét về tiến trình tư tưởng của hai người thầy vĩ đại của cách mạng lại có tính tất yếu nội tại. Hai mặt đó biểu hiện tập trung ở sự bắt đầu cộng tác của hai ông cùng nhau xây dựng quan điểm duy vật lịch sử. “Đứa con tinh thần” của hai người là cuốn sách “Gia đình thần thánh”.

Tháng 2-1845, vì bị Chính phủ Pháp trục xuất nên K.Marx cùng với gia đình đã phải tới Brussels (Bỉ). Tháng 4 năm ấy, F.Engels cũng phải rời quê hương sang cư trú tại đây.

Nếu lần gặp ở Paris mở đầu cho sự hợp tác sáng tạo suốt đời của hai người bạn cùng chí hướng (đồng chí) thì lần gặp gỡ này đánh dấu việc xây dựng nên một học thuyết vĩ đại hoàn chỉnh: Chủ nghĩa duy vật lịch sử. “Đứa con” xuất sắc mở đầu cho sự hợp tác lần này là tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”. Khoảng giữa hai lần gặp gỡ (trước khi đến Brussels), F.Engels đã chuyên tâm cho ra mắt tác phẩm của riêng mình là “Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh”. Khi K.Marx bị trục xuất sang Brussels, đời sống rất khó khăn, thiếu thốn. F.Engels đã chuyển toàn bộ số tiền nhuận bút của cuốn sách nói trên để giúp đỡ K.Marx với những lời lẽ chí tình: “Ít ra thì lũ chó ấy cũng không thể hí hửng về việc đã có hành động đốn mạt gây khó khăn cho anh về tiền nong”(2).

Từ đây, trên con đường nghiên cứu khoa học và hoạt động đấu tranh cho sự ra đời và thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản khoa học cả trên bình diện lý luận, tư tưởng lẫn trong đời sống chính trị, F.Engels đã luôn là người bạn, người đồng chí chung thủy, sát cánh bên cạnh K.Marx, chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ với K.Marx, bảo vệ và tôn trọng K.Marx cho tới ngay cả sau khi K.Marx qua đời.

Ta biết rằng suốt cả cuộc đời, K.Marx đã được F.Engels hy sinh, giúp đỡ cho cả gia đình ông về vật chất cũng như tinh thần. Nếu không có sự giúp đỡ hết lòng của F.Engels, K.Marx khó có điều kiện vật chất để hoàn thành những tác phẩm đồ sộ của mình. Nhưng không chỉ có thế, trên bình diện lý luận, ngoài những tác phẩm thiên tài của riêng mình, F.Engels còn giúp đỡ K.Marx rất nhiều về mặt khoa học. Không ai có thể phủ nhận thiên tài của K.Marx khi nghiên cứu kinh tế chính trị học thể hiện ở bộ “Tư bản” vĩ đại nhưng cũng không ai có thể phủ nhận ảnh hưởng to lớn và sự cộng tác cụ thể của F.Engels đối với K.Marx khi hoàn thành tác phẩm đó. Chính K.Marx, trước khi cho xuất bản bộ “Tư bản” tập I, đã bày tỏ sự chân thành với F.Engels, đề nghị ông cùng đứng tên với tư cách đồng tác giả nhưng F.Engels đã khiêm nhường từ chối. Ngay cả những tác phẩm hai người cùng trực tiếp viết, F.Engels bao giờ cũng nhún nhường tuyên bố: Phần ông đóng góp như thế nào thì tùy độc giả nhận xét nhưng tư tưởng chủ đạo của các tác phẩm ấy hoàn toàn là của bạn ông, K.Marx.

Sau khi K.Marx qua đời, Friedrich Engels là người duy nhất có quyền công bố những tác phẩm của K.Marx (kể cả những tác phẩm chưa xuất bản) nhưng cho đến trước khi trút hơi thở cuối cùng, ông vẫn nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng công lao sáng lập ra triết học và kinh tế chính trị học mác-xít chủ yếu thuộc về K.Marx. Không những thế, ông còn viết tiếp một số tác phẩm để bổ sung, làm sáng tỏ cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử (như cuốn “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”...) với một lời thành kính rằng: Viết là để thực hiện di chúc của người quá cố, K.Marx.

Nhìn vào toàn bộ kho tàng lý luận đồ sộ của Chủ nghĩa Marx, ai cũng thấy rõ sự đồng sáng tạo của cả K.Marx và F.Engels, nhưng bao giờ F.Engels cũng khẳng định rằng K.Marx là một thiên tài, còn ông may lắm thì là một người có tài, rằng ông chỉ là một cây vĩ cầm bé nhỏ bên cạnh K.Marx.

K.Marx và F.Engels không những để lại cho nhân loại một khối lượng tri thức khoa học khổng lồ mà các ông còn để lại cho chúng ta tấm gương về nhân cách nghìn năm sáng chói. Kỷ niệm 200 năm Ngày sinh của F.Engels vĩ đại, chúng ta tự hào vì đã và đang tiếp bước các ông đấu tranh cho một thế giới công bằng, nhân ái, tự do, hạnh phúc như lý tưởng và hoài bão của ông và K.Marx, bạn ông.

Chúng ta rất tự hào vì Tổ quốc ta, nhân dân ta thời đại nào cũng có những nhân cách lớn, thể hiện tính trung thực và công bằng khi đối xử với những người cộng sự, những người đồng chí, bè bạn và cấp dưới, những người giúp việc mình. Một ví dụ nhỏ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong mấy thập niên cuối đời đã cho ra đời một số hồi ký có giá trị lý luận rất cao về khoa học và nghệ thuật quân sự, nghệ thuật chiến tranh nhân dân. Tư tưởng và nội dung những cuốn sách đó hoàn toàn là của ông. Khi giao cho một nhà văn quân đội thể hiện, ông đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, trực tiếp sửa chữa bản thảo (cả nội dung, văn phong và cấu trúc) nhưng đến khi xuất bản, bao giờ ông cũng yêu cầu ghi tên người thể hiện bên cạnh tên ông, tác giả cuốn sách.

Thật là bất kính khi có một số người mang danh là người mác-xít mà lại có những hành vi tranh giành danh vọng, địa vị, quyền chức với nhau, thậm chí chèn ép nhau, vu khống nhau, cướp công của nhau, “dìm” đồng chí mình xuống để “ngoi” lên. Bác Hồ đã từng phê phán những người vì mục đích tư lợi mà đối xử bất công, thậm chí tàn nhẫn với những người được coi là bạn bè, đồng chí. Khi còn sống, Người hằng khuyên: Trong Đảng phải chân thành, thật thà, trung thực và thẳng thắn với đồng chí mình, với cấp dưới và nhân dân. Trước khi từ giã thế giới này, Người còn dặn lại: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” (Di chúc).

Truyền thống đạo lý của dân tộc ta đã từng khuyên dạy những người học trò chân chính phải có trách nhiệm giữ lấy lề thói, phép tắc và đạo đức mà những người thầy đáng kính của mình đã dạy và nêu gương.

(1) Karl Marx và Friedrich Engels, Toàn tập, tập 21, NXB CTQG, H.1995, tr.321.

(2) Sđd, tập 27, tr.35.

PGS, TS TRẦN ĐÌNH HUỲNH