Ngày 7-5-1953, với sự thỏa thuận của Mỹ, Chính phủ Pháp cử tướng H.Navarre sang Đông Dương làm tổng chỉ huy quân đội viễn chinh và hai tháng sau, kế hoạch quân sự Navarre ra đời.

Đây là một kế hoạch quân sự có quy mô rộng lớn, thể hiện sự cố gắng lớn nhất và cũng là cố gắng cuối cùng của quân đội Pháp, có sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Kế hoạch này ra đời nhằm tìm kiếm một chiến thắng quân sự quyết định, để làm cơ sở cho một cuộc thảo luận hòa bình trên thế mạnh. Kế hoạch này của Bộ chỉ huy Pháp tại Đông Dương gồm hai bước:

Bước thứ nhất, thu-đông 1953 và xuân 1954, giữ thế phòng ngự ở miền Bắc, tập trung một lực lượng cơ động lớn ở Đồng bằng Bắc Bộ để đối phó với cuộc tiến công của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, thực hiện tiến công chiến lược ở miền Nam, chiếm đóng 3 tỉnh ở đồng bằng Liên khu 5, đồng thời đẩy mạnh việc mở rộng lực lượng bản địa hỗ trợ là quân đội quốc gia Việt Nam và xây dựng một đội quân cơ động lớn, đủ sức đánh bại các đại đoàn chủ lực của Việt Minh.

leftcenterrightdel
Đại đoàn 316 trên đường hành quân lên Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu

Bước thứ hai, từ thu-đông 1954, sau khi hoàn thành các mục tiêu trên, quân Pháp sẽ dồn toàn lực ra Bắc, chuyển sang tiến công chiến lược trên chiến trường chính, giành thắng lợi lớn về quân sự, buộc Việt Minh phải chấp nhận theo những điều kiện của Pháp. Nếu khước từ, quân Pháp sẽ tập trung mọi nỗ lực, loại trừ quân chủ lực của QĐND Việt Nam.

Điều quan trọng hơn, kế hoạch Navarre được Mỹ ủng hộ và gánh chịu mọi khoản chi phí, gồm gần 400 triệu USD.

Theo kế hoạch đó, trước khi vào mùa khô năm 1953, Navarre đã đưa lực lượng cơ động chiến lược và chiến thuật lên tới 82 tiểu đoàn và quân tăng viện mới, đưa từ Pháp sang, từ chiến trường Triều Tiên về, tổ chức được 18 binh đoàn cơ động chiến lược, tập trung già nửa quân số quân cơ động, 44 tiểu đoàn ở Đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có 7 binh đoàn cơ động mạnh, được tổ chức từ trước để đối phó với cuộc tiến công của QĐND Việt Nam trên chiến trường chính.

Nhận định về kế hoạch Navarre, Quân ủy Trung ương cho rằng: “Kế hoạch Navarre ra đời trong hoàn cảnh bị động, trong thế thua, nên nó chứa đựng đầy mâu thuẫn và nảy sinh mầm mống thất bại ngay từ đầu. Nắm được mâu thuẫn này thì quân Pháp thất bại là điều không tránh khỏi”. Cho nên, trong Chiến cục đông-xuân 1953-1954, thế trận của hai bên tham chiến hoàn toàn trái ngược nhau. Phía quân Pháp là phòng ngự bị động, đi đến thất bại, còn phía quân và dân ta là tiến công chủ động và giành thắng lợi lớn. Chính vì thế, 18 năm sau (1954-1972), khi đánh giá sự thắng lợi của quân và dân ta trước cuộc tập kích chiến lược vào Hà Nội và Hải Phòng bằng không quân chiến lược của đế quốc Mỹ, giới báo chí đã gọi đây là Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”, ý muốn đánh giá cao “Điện Biên Phủ dưới đất” của quân và dân Việt Nam và phê phán thế trận bị động, xơ cứng của quân viễn chinh Pháp.

Quay lại tình hình thu-đông 1953, theo kế hoạch đã định sẵn, cuối tháng 8-1953, Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam báo cáo với Tổng Quân ủy một bản kế hoạch tác chiến, với chủ trương chiến lược là “tập trung lực lượng, mở những cuộc tiến công vào hướng quan trọng về chiến lược mà địch tương đối yếu, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất đai, đồng thời buộc quân địch phải bị động phân tán lực lượng đối phó trên những địa điểm xung yếu, tạo cho ta có thêm những điều kiện thuận lợi mới để tiêu diệt thêm từng bộ phận sinh lực của chúng”.

Và như vậy, đến cuối tháng 2-1954, toàn bộ kế hoạch đông-xuân 1953-1954 đã được quân và dân ta triển khai trên toàn chiến trường Đông Dương, làm lực lượng cơ động chiến lược của quân Pháp buộc phải phân tán ra làm 5 nơi và bị động nhảy dù xuống Điện Biên Phủ trong thế cô lập.

2.  Với Điện Biên Phủ, quân Pháp muốn xây dựng thành một “trận chiến Verdun nhiệt đới”, “trận chiến Verdun thứ hai” để đưa nước Pháp tới chiến thắng trong danh dự.

Verdun là một chiến dịch mang tính quyết định của quân Pháp chống lại sự tiến công của quân Đức. Chiến dịch này diễn ra từ tháng 2 đến tháng 12-1916 trong Chiến tranh thế giới thứ nhất.

Là một thành phố xung yếu ở phía đông Paris, Verdun luôn là điểm tiền tiêu đoạn giữa chiến tuyến của quân Pháp. Nó cũng là nơi cần phải chiếm giữ của cả hai bên.

Về phía quân Đức, ý đồ tiến công Verdun là nhằm đánh phủ đầu, trước khi quân Anh-Pháp tiến công, nhằm đột phá trận tuyến của Pháp để thay đổi tình hình chiến lược, kìm giữ và tiêu hao bộ phận lớn binh lực của Pháp. Đảm nhiệm tiến công Verdun là quân đoàn thứ V cùng với một số quân đoàn khác, tổng cộng là 18 sư đoàn, với 1.200 khẩu pháo, 170 máy bay; sau đó tăng lên 50 sư đoàn, chiếm một nửa tổng số binh lực quân Đức ở mặt trận phía tây.

Để che giấu mục tiêu tiến công, ngày 21-2-1916, quân Đức bắt đầu nã pháo vào trận địa của quân Pháp trên phạm vi 40km. Chỉ trong khoảng thời gian từ 7 giờ đến 15 giờ ngày 21-2, quân Đức đã nã vào đây hơn hai triệu quả đạn. Sau khi nã pháo, hồi 16 giờ 45 phút, quân Đức bắt đầu mở cuộc tiến công. Quân Đức có ưu thế về đạn pháo và binh lực. Phía quân Pháp chỉ có 4 sư đoàn, phải đối phó với 10 sư đoàn Đức, nên ngày đầu tiên chiến tuyến thứ nhất đã bị thất thủ. Trong 5 ngày đầu, quân Đức đã tiến sâu vào 5km và chiếm lĩnh pháo đài Đô-mông, một cứ điểm phòng vệ quan trọng trên chiến tuyến thứ ba của Pháp.

Tiếp đấy, chỉ mấy tiếng đồng hồ, sau khi Đô-mông thất thủ, tướng Pê-tanh, Tư lệnh tập đoàn quân thứ hai được cử đến chỉ huy mặt trận Verdun. Lúc này, viện quân Pháp cũng được điều động đến Verdun để tăng cường phòng vệ. Trận tuyến quân Pháp bắt đầu ổn định dần. Tướng Pê-tanh sử dụng quốc lộ, thông với Verdun-lúc ấy gọi là đường thần, đường thiêng liêng-điều 3.400 xe vận tải, ngày đêm vận chuyển thuốc men, đạn dược từ hậu phương ra tiền tuyến.

Từ ngày 27-2 trở đi, cứ một tuần, đoàn xe tải vận chuyển được 190.000 binh sĩ, 25.000 tấn đạn dược và các quân trang, quân dụng khác. Đây là cuộc vận chuyển với quy mô lớn đầu tiên trong lịch sử chiến tranh.

Từ ngày 6-3 trở đi, phạm vi tiến công của quân Đức mở rộng sang phía tây sông Mác-xơ, chiếm cao điểm 304 và 295. Quân Pháp không ngừng phản kích, mỗi trận địa đều giành giật nhau nhiều lần. Hai bên đều bị thương vong rất lớn. Đến thượng tuần tháng 6, trải qua 7 ngày kịch chiến, điểm Vobung bị quân Đức chiếm. Cuối tháng 6, đầu tháng 7, quân Đức sử dụng cả hơi độc để tiến công vào Soviey, nơi yết hầu của Verdun, nhưng đều bị đánh lui.

Để hỗ trợ cho Verdun, bắt đầu từ ngày 1-7, quân Anh-Pháp mở mặt trận trên sông Xom-mơ, khiến cho quân Đức không thể tiếp tục bổ sung quân vào Verdun được nữa. Những trận tiến công vào đây về sau chỉ nhằm kìm giữ quân Pháp mà thôi. Từ trung tuần tháng 8, quân Pháp phản kích hai lần, lấy lại một số vị trí trên trận địa đã mất.

Do không chiếm được Verdun, cuối tháng 8, tướng Đức là Phakennan bị bãi chức Tổng tư lệnh, tướng Von-hin-đen-buốc lên thay. Từ ngày 24-10, quân Pháp phản công, lấy lại Đô-mông, đầu tháng 11 lấy lại Vobung. Ngày 15-12, 8 sư đoàn phản công lấy lại trận địa trên sông Mác-xơ, từ ngày 25-12, chiến dịch Verdun kết thúc.

3.  Giữ vững Verdun là một việc khó, nhưng người Pháp đã làm được vì đó là lãnh thổ của nước Pháp. Còn lấy Điện Biên Phủ với “tinh thần Verdun” để làm cơ sở cho một chiến thắng trong danh dự của quân Pháp lại là một việc khác. Vì Điện Biên Phủ là một vùng đất của người Việt mà người Pháp định đánh chiếm. Điều đó không dễ dàng, mà người Pháp lại ngạo mạn, chủ quan, không thấy được mặt hạn chế của nó.

Thứ nhất, với một địa thế đặc biệt của một thung lũng, đã bị người Pháp đánh giá cao khi quyết định xây dựng tại đây một tập đoàn cứ điểm. Với một vị trí thấp hơn như vậy, người Pháp đã tự đẩy mình vào thế phòng ngự bị động. Từ trên những ngọn núi cao, đối phương có thể nổ súng bất cứ lúc nào và đẩy tập đoàn cứ điểm rơi vào thế bị bao vây, khống chế.

Thứ hai, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ nằm chơ vơ giữa núi rừng trùng điệp, ở rất xa căn cứ hậu phương của quân Pháp. Mọi nguồn tiếp tế, viện trợ chỉ bằng con đường duy nhất là đường hàng không. Đối phương đã nhận thấy rõ điểm này và trở thành mục tiêu chính ngay khi kết thúc đợt tiến công ở giai đoạn 1. Bằng việc đẩy mạnh phong trào “săn tây, bắn tỉa” và phát huy hiệu quả của pháo cao xạ, từ cuối tháng 3-1954, quân đội của tướng Giáp đã chiếm được sân bay Mường Thanh, cắt đứt được con đường vận chuyển duy nhất này. Tập đoàn cứ điểm ngày càng yếu dần và rơi vào cảnh nguy khốn trong tình trạng đói khát, bệnh tật mà lực lượng ngày càng hao mòn, không muốn tiếp tục chiến đấu.

Thứ ba, về cơ bản, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là một khối gắn kết chặt chẽ, được bao bọc và bảo vệ bởi những loại vũ khí, phương tiện hiện đại nhất lúc bấy giờ. Nhưng trong thực tế, các cứ điểm này vẫn hoàn toàn độc lập về khả năng chiến đấu. Lực lượng này không cơ động và kịp thời. Đối phương đã đào những hệ thống giao thông hào, chia cắt các phân khu và các cứ điểm, tiêu diệt địch lần lượt từ ngoài vào trong, đã phá vỡ khối liên kết chặt chẽ đó và đã chiến thắng.

Thứ tư, là sự chủ quan, coi thường đối phương và sự đánh giá mình quá cao, của chính bộ não của tập đoàn cứ điểm.

(còn nữa)

DƯƠNG XUÂN ĐỐNG