Trung tuần tháng 8, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã phát biểu trên truyền hình: “Đây là điều tôi đoan chắc tuyệt đối-rất không đúng nếu cứ ra lệnh cho các đơn vị quân đội Mỹ gia tăng nỗ lực, khi chính những lực lượng vũ trang Afghanistan không hề làm như thế. Các thủ lĩnh chính trị Afghanistan đã không thể liên kết lại với nhau vì lợi ích của chính dân tộc mình. Họ đã không thể cùng nhau tiến hành các cuộc thương thảo vì tương lai đất nước trong khoảnh khắc quyết định nhất. Và họ hẳn sẽ không bao giờ làm được như thế, nếu các đơn vị quân đội Mỹ vẫn ở lại Afghanistan và mang trên mình gánh nặng chính của chiến tranh...”. Tổng thống Joe Biden cũng cho rằng, nếu Washington vẫn tiếp tục duy trì sự có mặt về quân sự của mình ở Afghanistan với tổn phí nhiều tỷ USD thì điều đó chỉ làm cho những quốc gia mà Mỹ đang coi là đối thủ chính yếu trên trường quốc tế trở thành “ngư ông đắc lợi”.

leftcenterrightdel
Một phi công Mỹ hướng dẫn những người sơ tán lên máy bay vận tải C-17 Globemaster III của Không quân Mỹ ở Sân bay Quốc tế Hamid Karzai tại Kabul, Afghanistan ngày 24-8. Ảnh: AP 

Dù có đứng trên bất cứ quan điểm nào cũng phải đồng ý rằng, mục tiêu mà những người hoạch định chiến dịch chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế đã đặt ra gần 20 năm trước khi đưa lực lượng quân sự đa quốc gia, đứng đầu là Mỹ và NATO vào Afghanistan đã không đạt được. Hơn thế nữa, đó thực sự là một thất bại đối với nước Mỹ và cả NATO nữa. Tờ The Wall Street Journal còn nhận xét, việc ông Biden rút các đơn vị quân đội Mỹ ra khỏi Afghanistan là “một cái tát vào mặt NATO”. Các nước NATO không muốn Mỹ rút quân khỏi Afghanistan, nhưng ông Biden đã làm việc này. Và do những sự cố bất ngờ, Mỹ đã phải tổ chức di tản đường hàng không để đưa khỏi Afghanistan hàng nghìn công dân của mình cũng như nhiều người Afghanistan từng cộng tác với họ.

Trong bài phát biểu của mình về việc rút quân khỏi Afghanistan, Tổng thống Mỹ chỉ nhắc sơ qua về NATO và không một lời nào nói tới các đồng minh châu Âu của Washington, dù họ luôn sát cánh với Mỹ trong cuộc phiêu lưu quân sự đó. Theo một số nguồn tin, ngay cả Thủ tướng Anh Boris Johnson cũng đã phải chờ tới nửa ngày mới nối được liên lạc điện thoại với Tổng thống Mỹ sau sự kiện này. Theo nhà chính trị người Tây Ban NhaJose Maria Lassalleviết trên tờ El Pais, Washington cùng các đồng minh trong NATO đã phải chấp nhận “một thất bại nghiêm trọng mang tính biểu tượng” do sự ích kỷ và chối bỏ các giá trị dân chủ phổ quát. Khó có ai có sẵn câu trả lời về việc tại sao lại thế, nhưng có lẽ những nguyên nhân dẫn tới tình cảnh hiện nay hẳn phải nằm trong “lịch sử và bộ gene (ADN) địa chính trị đang ẩn mình trong những hang động và những dãy núi” của Afghanistan. Còn Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov ngày 17-8 đã đánh giá: “Đó không hẳn như một con thú bị thương, mà đó là việc một nhóm quốc gia đang rất nặng nhọc, đau ốm từ giã với những vị trí mà họ quen chiếm giữ từ nhiều thập niên qua”.

Thực sự, việc Taliban làm chủ thủ đô Kabul và tuyệt đại bộ phận lãnh thổ Afghanistan dẫn tới những thay đổi căn bản trong bản đồ địa chính trị ở khu vực Nam Á nói riêng và cả ở quy mô quốc tế rộng lớn hơn nói chung. Trong đời sống quốc tế khó có thể kéo dài tình trạng khoảng chân không quyền lực hay khoảng chân không ảnh hưởng, nhưng có lẽ phương Tây sẽ rất khó khôi phục lại vai trò nổi trội của mình mà họ từng có trước đây ở khu vực này. Theo đánh giá của nhiều nhà quan sát, có vẻ như tại Nam Á sẽ bắt buộc phải chứng kiến sự thay ngôi của những siêu cường trên bàn cờ chính trị khu vực. Không ngẫu nhiên mà ngay lập tức vào trung tuần tháng 8, Moscow đã tiến hành cuộc tập trận lớn tại khu vực biên giới chỉ cách các căn cứ của lực lượng Taliban khoảng 20 cây số. Việc này, như tướng Nga Anatoly Sidorov, chỉ huy các lực lượng tham gia tập trận đã nói, có mục đích gửi tới những ai cần biết một tín hiệu rõ ràng: Từ nay, chính nước Nga chứ không phải một quốc gia nào khác sẽ gánh vác trách nhiệm bảo vệ Nam Á trước những sự bùng nổ tiềm tàng của các cuộc xung đột.

 Trong cuộc họp báo ngày 20-8 kết thúc chuyến thăm chắc chắn sẽ là cuối cùng của nữ Thủ tướng Đức Angela Merkel tới nước Nga, khi trả lời câu hỏi về tình hình ở Afghanistan và những kết luận có thể đưa ra sau cuộc can thiệp kéo dài tới hai thập niên của Washington vào quốc gia Nam Á này, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã nhấn mạnh rằng “không nên giậm chân tại chỗ trong vấn đề này...” và cần phải nhìn vào tương lai. Ông Putin cho rằng, việc phong trào Taliban làm chủ hầu hết đất nước Afghanistan, kể cả thủ đô Kabul, đã là một thực tế, một “sự đã rồi”, nên cộng đồng quốc tế cũng bắt buộc phải hành xử xuất phát từ cảnh huống này: “Điều quan trọng hiện nay là không để lọt những phần tử khủng bố sang lãnh thổ các quốc gia láng giềng với Afghanistan, kể cả dưới vỏ bọc những người di tản tị nạn...”. Ông Putin cũng cho rằng cộng đồng quốc tế cần chung tay theo dõi thật sít sao quá trình khôi phục trật tự của lực lượng Taliban tại Afghanistan.

 Lực lượng Taliban đang chuẩn bị cho việc trình diện hệ thống chính trị của họ trong việc điều hành Afghanistan. Họ khẳng định rằng hình thức quản lý mới sẽ bảo vệ quyền lợi của tất cả người dân ở nước này. Họ đã bác bỏ những lời buộc tội về trách nhiệm của họ đối với những lộn xộn diễn ra tại sân bay Kabul và cho rằng, những chuyện không hay xảy ra là vì phương Tây đã không có một kế hoạch sơ tán rõ ràng.

Hiện nay, trong thực tế, những quốc gia như Nga, Trung Quốc hay Iran đã thiết lập được những mối quan hệ không xung đột với lực lượng Taliban. Đại sứ Nga tại Afghanistan Dmitry Zhirnov khi nhận xét về những người vũ trang mà Taliban đưa tới gác cửa Đại sứ quán Nga ở Kabul, đã nói: “Đó là những người đàn ông thích ứng, được trang bị tốt”. Cũng phải nói thêm rằng, luật pháp Nga vẫn coi Taliban là một lực lượng khủng bố. Còn Tổng thống Mỹ Joe Biden mới đây nhất đã tuyên bố, việc phối hợp hành động của Mỹ và đồng minh với Taliban hiện đang phụ thuộc vào hàng loạt điều kiện...

HỒNG THANH QUANG