Cự Nẫm là vùng đất nổi tiếng đến mức chỉ cần bạn gõ hai chữ ấy trên Google thì công cụ tìm kiếm thông minh bậc nhất nhân loại này sẽ cho bạn hàng loạt kết quả liên quan. Nhưng cho đến những ngày tháng này, mùa hè năm 2021, Cự Nẫm vẫn chỉ giản dị là một vùng quê lấy nông nghiệp là nghề sản xuất chính, vẫn những cánh đồng trải dài, phủ kín một xanh non vào mùa xuân và vàng óng khi lúa chín, vẫn những dòng chảy hiền hòa yên ả của mấy nhánh sông, vẫn những tàng cây khó nhọc biếc xanh qua bao mưa bão... Cự Nẫm, như nhiều miền quê xa thành phố khác, thanh niên nam nữ đi học, đi làm vãn hết cả làng. Ở lại quê nhà hầu như chỉ còn người già, trung niên. Nhiều ngôi nhà được xây đẹp đẽ bên những con đường nhỏ, đôi chỗ còn đất đỏ bụi mù vì mới chỉ rải cấp phối, xe chở vật liệu xây dựng đi qua là bụi lại bốc lên.

leftcenterrightdel
Cự Nẫm hôm nay. Ảnh: BÍCH THÚY 

Thật khó hình dung là vùng quê yên bình này trong những năm đầu kháng chiến lại là nơi hứng chịu những đợt càn quét dữ dội bậc nhất của thực dân Pháp.

Ngày 27-3-1947, Quảng Bình bước vào cuộc kháng chiến. Cự Nẫm ở vào vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về an ninh và quốc phòng. Phía tây làng có khe Cái Trong đổ ra sông Son để sau đó hợp với sông Gianh đổ ra biển. Phía bắc làng có đường xe lửa xuyên Việt chạy qua. Tỉnh lộ 2 từ Hoàn Lão lên, xuyên qua Cự Nẫm từ đông sang tây để lên Troóc, Hà Lời, Khương Hà. Quanh làng có nhiều cao điểm độc lập hoặc liên hoàn như Cồn Tro, Cồn Nàn, Rú Nguốn, Đồng Dôn, Hố Đá... rất thuận lợi cho việc bố trí binh, hỏa lực tấn công và phòng thủ. Cự Nẫm nằm trên đường liên lạc bí mật của tỉnh, là tiền đồn phía đông, là chiếc áo giáp bên ngoài của vùng tự do Bố Trạch và của cả tỉnh Quảng Bình.

Xác định vị trí chiến lược quan trọng và địa thế hiểm yếu của Cự Nẫm đối với cuộc kháng chiến, nhận định đúng âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù đối với địa phương, Tỉnh ủy Quảng Bình chủ trương thành lập “làng chiến đấu” để động viên toàn dân kháng chiến. Và “làng chiến đấu” Cự Nẫm là một trong những ngôi làng gây cho kẻ địch nhiều phen khốn đốn nhất thời bấy giờ.  

Nhân dân Cự Nẫm đã rào làng thành các tuyến l, 2 và 3. Tuyến 3 là kiên cố nhất. Hàng ngàn bụi tre được ngả xuống dựng lũy. Rào cao 3m ở tuyến 1, 2. Ở tuyến 3, lợi dụng lũy tre quanh làng, nhân dân gia cố thêm nên rất dày và kiên cố. Bên trong các tuyến rào là giao thông hào chằng chịt như bàn cờ để du kích cơ động và ẩn nấp.  

Nhân dân còn đào hầm bí mật, hố chiến đấu, đặt bẫy, gài chông. Cả làng chỉ có hai lối vào, ra, được du kích canh gác thường xuyên. Vòng ngoài bố trí 9 vọng gác trên các ngọn đồi cao để kiểm soát người qua lại trong vùng. Mỗi vọng gác đều có hiệu lệnh riêng để báo về sở chỉ huy khi có tình huống mới. Sở chỉ huy đặt ở đình làng, hiệu lệnh chỉ huy là tiếng trống, tiếng mõ. Trống lệnh được đặt ở vị trí vừa bí mật, vừa thuận lợi cho việc phát lệnh trong mọi tình huống. Phương án chiến đấu thống nhất giữa sở chỉ huy với các vọng gác, lực lượng du kích và nhân dân...

leftcenterrightdel
 Ông Nguyễn Hữu Phi bên bia di tích Làng chiến đấu Cự Nẫm. Ảnh: BÍCH THÚY

Lực lượng vũ trang của làng có 3 trung đội. Trung đội cơ động có 42 người, là lực lượng tác chiến nòng cốt. Ngoài ra còn một trung đội hậu cần, một trung đội liên lạc, một ban sơ tán có giấu gạo, vò đựng nước, chuồng gia súc và bếp nấu ăn. Hàng nghìn thúng lúa gạo do nhân dân đóng góp được du kích chôn giấu vào lòng đất phòng bị địch bao vây lâu dài.

Thấy rõ vị trí xung yếu và lợi hại của Cự Nẫm, tháng 4-1947, giặc Pháp mở cuộc hành quân đánh vào Cự Nẫm. Từ các đồn xa gần, chúng dùng trọng pháo bắn vào làng. Chúng tin rằng trong một thời gian ngắn, nhân dân Cự Nẫm sẽ quy thuận đầu hàng. Nhưng kẻ địch không ngờ, trong suốt gần một năm, từ tháng 4-1947 đến tháng 3-1948, chúng đã phải tiến hành 26 cuộc càn quét, với các hướng tấn công khác nhau mà đều gặp phải sự chống cự quyết liệt của quân dân Cự Nẫm.

Sau 26 trận càn, Pháp mới chiếm được Cự Nẫm. Đóng được đồn ở Cự Nẫm rồi chúng trả thù rất dã man. Chúng đốt làng, tàn sát dân thường, có người bị chúng chặt làm 3 khúc, có gia đình bị chúng giết sạch.

Tôi gặp ở Cự Nẫm một người đã trải qua hầu như tất cả những giai đoạn lịch sử quan trọng của làng, ông Nguyễn Hữu Phi. Ngày giặc Pháp mở những trận càn đầu tiên vào làng, ông còn là một đứa trẻ chưa học tiểu học. Khi giặc càn dữ dội quá, tỉnh chỉ đạo địa phương cho dân tản cư. Tất cả người già, trẻ nhỏ đều đi tản cư hết. Tản cư là một nhiệm vụ. Tản cư để thanh niên trai tráng “rảnh tay” đánh giặc, không phải bận tâm việc bảo vệ hậu phương. Ông Nguyễn Hữu Phi nói rằng, ngày rời làng tản cư, gia đình nào cũng chỉ có thể mang theo quần áo, lương thực, vài đồ dùng thiết yếu, còn tất cả tài sản đều để lại cùng nhà cửa, ruộng vườn. Cũng chỉ biết cõng con chạy giặc chứ không ai biết là cuộc tản cư ấy sẽ kéo dài suốt 4 năm trời.

Rời làng, các gia đình dắt díu nhau chạy lên núi. Lều lán còn chưa ấm chỗ thì giặc đã kéo đến. Không một lời tuyên bố, chúng lập tức ra tay giết hại bất cứ người nào dù là người già, trẻ em. Lại chạy tiếp. Lần này, gia đình ông cùng một vài gia đình khác chạy một mạch ra tận vùng giải phóng là Tuyên Hóa, tức là cách làng khoảng gần 100km. Mà chỉ có đi bộ. Trèo đèo, lội suối, ngày chạy, đêm vào hang ngủ. Thỉnh thoảng may mắn gặp một ngôi làng thì ghé vào, được người dân địa phương cho ăn ngủ nhờ. Hôm sau lại đi tiếp. Có những lần, dọc đường gặp lính Pháp. Chúng bắt người dân xếp hàng dài rồi tra hỏi: Trong số này có đứa nào là người Cự Nẫm không? Mẹ và anh trai ông đứng ở trong hàng, im thin thít. Không ngờ rằng, tất cả mọi người đều trả lời: Không có!

leftcenterrightdel
Học sinh Trường THPT Hùng Vương, xưa là Trường cấp 3 Cự Nẫm. Ảnh: BÍCH THÚY 

Hai từ “không có” ấy đã theo ông đi suốt cuộc đời, thấm đẫm một niềm biết ơn, xúc động. Trong những ngày tháng khổ sở cùng cực, đói khát, lang thang chưa biết tới đâu, con cái lại nheo nhóc, đứa nhỏ, đứa ốm đau bệnh tật... cha mẹ ông cuối cùng đã đưa được các con đến nơi an toàn, nhờ vào không biết bao nhiêu tấm lòng nhân ái cưu mang.

Ông Nguyễn Hữu Phi đưa tôi đến nơi làng dựng bia tưởng niệm những người đã ngã xuống trong công cuộc bảo vệ quê hương, đất nước. Tấm bia được đặt trang trọng ở nơi mà hơn 7 thập kỷ trước không biết bao nhiêu bom đạn đã trút xuống, không biết bao nhiêu xương máu đã đổ. Ông chỉ về phía hàng cây xa xa, ngày xưa, đấy là nơi làng dựng lên hàng rào đầu tiên để ngăn chặn bước chân đẫm máu của kẻ thù.

Ông Phi năm nay hơn 80 tuổi thì cuộc đời ông có đến 44 năm làm nhà giáo. Ông làm thầy giáo từ năm 19 tuổi, khi mới chỉ qua 15 ngày học sư phạm. Và cứ thế, trong suốt quãng thời gian còn lại, ông đi dạy, rồi đi học, lại đi dạy, lại đi học. Dạy từ lúc bom đạn trút xuống ngày đêm, thầy trò phải dắt nhau chui vào hầm học, từ lớp nọ sang lớp kia thông nhau bằng hào sâu... Tới khi ngôi trường cấp 3 duy nhất trong vùng được xây dựng khang trang, có mái ngói, có tường vôi. Duy chỉ có những ngày mưa lũ, thầy muốn đến trường thì vẫn phải xắn quần lên quá đầu gối, thì thụt lội trong bùn nhão...

Tôi đứng dưới những gốc cây long não cổ thụ, trong lúc chiều tà đang buông, vài ngọn khói lơ đãng bay lên quẩn vào mấy nếp nhà nâu thẫm, nghe tiếng những quả chuông leng keng trên cổ những chú bò vàng mập mạp và chợt nhận ra, ký ức của một vùng đất là điều không bao giờ mất đi. Nó luôn hiện hữu ngay trong hiện tại, hiện hữu trong lòng biết ơn của từng con người, từng thế hệ sinh ra, lớn lên trên mảnh đất này. 

Ghi chép của THANH AM