Vũ điệu giật lùi thổi hồn vào đất
Những ngày đầu tháng 10, hàng nghìn đồng bào Chăm ở các địa phương phía Nam tỉnh Khánh Hòa rộn ràng trong không khí Lễ hội Katê. Hòa vào dòng người trẩy hội, chúng tôi tìm về Hợp tác xã gốm Chăm Bàu Trúc vào một chiều cuối thu. Giữa không gian rộn rã tiếng bước chân của khách tham quan, các chị, các mẹ vẫn miệt mài xoay quanh đôn gỗ, nối dài nhịp điệu nghề truyền thống đã đi qua nhiều thế kỷ.
Khác biệt hoàn toàn với gốm Bát Tràng hay gốm Chu Đậu, sự độc đáo tạo nên thương hiệu gốm Bàu Trúc chính là tinh thần “nói không với bàn xoay” và tuyệt nhiên không dùng men màu công nghiệp. Ở đây, người thợ gốm chính là “chiếc bàn xoay sống”. Đặt khối đất sét cố định trên đôn gỗ, người thợ gốm vừa nhịp nhàng đi giật lùi xoay vòng, vừa khéo léo vuốt, nắn và chà mịn từng nếp đất. Mỗi nhịp chân di chuyển hòa cùng bàn tay uốn nắn tạo nên một điệu múa cổ xưa đầy mê hoặc.
    |
 |
Khách du lịch "check-in" bên các sản phẩm gốm tại Hợp tác xã gốm Chăm làng Bàu Trúc.
|
Vừa tỉ mẩn gọt giũa từng đường nét trên sản phẩm gốm bằng đôi bàn tay chai sạn, nghệ nhân Trượng Thị Gạch (80 tuổi) vừa kể với chúng tôi về hơn 60 năm gắn bó với đất sét sông Quao: “Đất sét Bàu Trúc hiền lắm nhưng cũng bướng lắm, phải dùng cái tâm thanh thản và đôi bàn tay mềm mỏng thì đất mới “nghe lời”. Ngày xưa làm gốm chỉ mong đổi lấy bát gạo, củ khoai. Nay tuổi đã xế chiều, thấy con cháu vẫn miệt mài xoay quanh đôn gỗ, lại thấy khách phương xa tìm về tham quan, trải nghiệm, tôi mừng cái bụng lắm”.
Điểm mấu chốt tạo nên chất lượng đặc trưng của gốm Bàu Trúc chính là nguồn nguyên liệu đất sét lấy từ bờ sông Quao. Đất được người thợ đào sâu từ 0,5 đến 0,7m trên diện tích bề mặt, sau khi lấy đất xong sẽ lấp lại ngay để bà con tiếp tục cấy lúa. Khoảng nửa năm sau, lớp đất mới tự nhiên sinh ra, người ta mới quay lại khai thác. Đất phơi khô, ngâm nước 12 giờ rồi đem trộn với cát mịn theo tỷ lệ gia truyền, tạo nên độ dẻo quánh kỳ lạ giúp gốm nung không bao giờ bị co nứt. Điều đáng kinh ngạc là những chiếc lu gốm Bàu Trúc khi đựng nước luôn giữ cho nhiệt độ bên trong mát hơn môi trường bên ngoài khoảng 1°C, đây là món quà vô giá dành cho vùng đất quanh năm nắng cháy.
Sau khi tạo hình, người thợ dùng những công cụ thô sơ để khắc lên thân gốm các hoa văn giản dị như hình sóng nước, răng cưa, vỏ sò, hoa lá... Nhưng công đoạn gian khổ và kịch tính nhất lại nằm ở khâu nung. Gốm Bàu Trúc không nằm trong những lò gạch đóng kín. Người ta xếp sản phẩm thành một tòa tháp khổng lồ ngoài trời, lớn ở dưới, nhỏ ở trên, rồi phủ củi khô, rơm rạ, trấu xung quanh và châm lửa.
Sự tương tác ngẫu nhiên giữa ngọn lửa, khói rơm và quặng sắt ẩn trong đất sông Quao tạo nên những vệt màu không bao giờ trùng lặp: Đỏ hồng, vàng nung, ám xám, đen huyền bí... Mỗi sản phẩm ra đời vì thế là một bản thể duy nhất, chứa đựng cả hơi thở của thiên nhiên và linh hồn người thợ.
Mạch ngầm nối giữa các thế hệ
Truyền thống làm gốm Bàu Trúc mang tính cha truyền con nối, nơi người phụ nữ giữ vai trò chủ đạo. Từ khi còn là những cô bé, con gái trong làng đã được mẹ chỉ tay dạy việc.
Bên đôn gốm, chị Đặng Thị Liễu (62 tuổi, người đã có gần 40 năm giữ lửa, là cháu họ của nghệ nhân Trượng Thị Gạch) bộc bạch: “Làm gốm Chăm khó nhất là cảm nhận độ ẩm của đất và ngọn lửa khi nung. Không có nhiệt kế, không lò điện, tất cả chỉ nhờ kinh nghiệm và sự nhạy cảm của đôi mắt, đôi bàn tay người thợ. Dù có thời điểm gốm dân sinh bán chậm, cuộc sống chật vật nhưng trót yêu đất rồi thì bỏ nghề sao đành”.
Không dừng lại ở nồi đất, bếp than hay chiếc lu truyền thống, sức sống của gốm Bàu Trúc hôm nay đang bừng sáng nhờ tư duy mới của lớp thợ trẻ. Anh Lưu Đang Quốc Doanh (sinh năm 1988), người có hơn 10 năm gắn bó với nghề, là một ví dụ điển hình. Không dừng lại ở mặt hàng dân sinh, anh Doanh đi sâu vào dòng gốm mỹ nghệ, chuyên nhận chế tác các mô hình tinh xảo theo đơn đặt hàng của khách du lịch và các công trình văn hóa.
Chỉ tay vào mô hình Gajasimha (con vật thần thoại mình sư tử, đầu voi) đang hoàn thiện, anh Doanh chia sẻ: “Thế hệ trẻ chúng tôi hiểu rằng, giữ nghề không có nghĩa là khép kín lối cũ. Bên cạnh gốm gia dụng, chúng tôi sáng tạo thêm tượng nghệ thuật, tháp Chăm thu nhỏ, đèn trang trí... để đáp ứng thị hiếu hiện đại. Kỹ thuật vẫn tuân thủ tuyệt đối nặn tay, nung lộ thiên của tổ tiên, nhưng đường nét phải sắc sảo và mang tính thẩm mỹ cao hơn”.
Sự kết hợp giữa nét cổ truyền và trải nghiệm thực tế đã tạo nên sức hút đặc biệt cho gốm Bàu Trúc. Đang hào hứng tự tay chuốt lại chiếc lọ hoa nhỏ dưới sự hướng dẫn của thợ làng, em Kim Khánh, 17 tuổi (du khách đến từ Hà Nội), bộc bạch: “Em từng xem việc làm gốm Bàu Trúc qua ti vi, nhưng khi tự tay chạm vào khối đất quánh mịn và bước giật lùi quanh đôn gỗ, em mới hiểu hết sự vất vả và tinh tế của các nghệ nhân. Với em, đây là món quà vô giá vì nó chứa đựng trải nghiệm thực sự của em”.
Trăn trở tìm hướng đi cho di sản
Giá trị độc bản đã mang lại cho gốm Bàu Trúc những danh hiệu cao quý. Năm 2017, “Nghệ thuật làm gốm truyền thống của người Chăm làng Bàu Trúc” được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đặc biệt, ngày 29-11-2022, “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” đã được UNESCO chính thức ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Bằng chứng nhận sau đó đã được trao trịnh trọng tại Lễ hội Nho và Vang Ninh Thuận tháng 6-2023. Đó là niềm tự hào to lớn nhưng cũng đặt ra bài toán lớn: Làm thế nào để di sản thoát khỏi tình trạng cần bảo vệ khẩn cấp và vươn mình phát triển bền vững?
Tại Hội thảo “Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Chăm trong kỷ nguyên mới” diễn ra tháng 6-2026, Thạc sĩ Dương Thị Anh (Cục Di sản văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) thẳng thắn chỉ ra: “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm dù là di sản thế giới nhưng đang phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt từ gốm công nghiệp giá rẻ cùng với sự khan hiếm nguồn nguyên liệu đất sét và nguy cơ thiếu hụt lực lượng lao động trẻ kế cận”.
    |
 |
| Anh Lưu Đang Quốc Doanh vẽ chi tiết hoa văn lên mô hình linh vật Gajasimha. |
Trước yêu cầu cấp bách của thời đại, việc bảo tồn làng gốm Chăm Bàu Trúc không thể chỉ dựa vào tình yêu nghề thuần túy của các nghệ nhân, mà cần một chiến lược toàn diện cả về vi mô lẫn vĩ mô. Nhấn mạnh về điều này, tại Hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp” diễn ra ngày 11-10 vừa qua tại xã Ninh Phước, đồng chí Thái Thị Lệ Hằng, Giám đốc Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa khẳng định: “Mục tiêu lâu dài của chúng ta là tạo sức sống mới cho di sản, để di sản tiếp tục được trao truyền và phát triển bền vững trong cộng đồng. Đây là cơ sở để từng bước đáp ứng tiêu chuẩn của UNESCO, hướng tới đưa nghệ thuật làm gốm của người Chăm ra khỏi tình trạng cần bảo vệ khẩn cấp và tiến tới được ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”.
Theo đó, đề án quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản giai đoạn 2025-2028 và các năm tiếp theo đã được địa phương phê duyệt với tổng kinh phí hơn 205 tỷ đồng. Nguồn lực này tập trung để nâng cấp hạ tầng, giữ gìn không gian văn hóa, truyền nghề cho thế hệ trẻ và chuẩn hóa mô hình du lịch cộng đồng. Lộ trình đặt ra đến năm 2026 đưa di sản thoát khỏi nguy cơ cần bảo vệ khẩn cấp; năm 2027 hoàn tất đăng ký nhãn hiệu “Gốm Chăm” và xây dựng chuẩn hóa mô hình du lịch cộng đồng. Từ năm 2028 đến 2030, đưa “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” vươn tầm trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Rời Bàu Trúc khi hoàng hôn đổ bóng, ngoảnh lại vẫn thấy những vệt khói nung gốm cuộn vào gió đồng quê, tỏa hương thơm nồng của đất sét chín và rơm rạ. Nhìn đôi bàn của anh Lưu Đang Quốc Doanh cẩn trọng gọt giũa từng đường nét trên phôi đất, hay nụ cười rạng rỡ của em Kim Khánh khi nâng niu sản phẩm đầu tay, chúng tôi tin rằng ngọn lửa bên bờ sông Quao sẽ không bao giờ tắt. Khi di sản đã trở thành sinh kế bền vững và tình yêu nghề được truyền qua từng nhịp bước giật lùi, gốm Bàu Trúc sẽ còn tiếp tục ngàn năm “thổi hồn vào đất”.
Bài và ảnh: MAI VĂN ĐÔNG