Những ngày đầu hè năm nay, tôi trở lại thôn Cốc Phương, xã Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Con đường nhựa phẳng lỳ chạy giữa những đồi chuối, đồi dứa ngút ngàn dẫn tới chiếc cổng chào mang dòng chữ: “Thôn kiểu mẫu: Cốc Phương-Kính chào quý khách!”.

Khó ai có thể hình dung những năm đầu thập niên 1980, nơi đây từng là một vùng đất trắng, hoang vu và đầy bom, mìn sót lại. Chính trên vùng đất ấy, năm 1989, già làng Thào Khai Lẻng cùng Thào Minh, Thào Dìn đã đưa 24 hộ dân người Mông từ Dìn Chin xuống đây kiếm sống. Ngày ấy, chẳng ai nghĩ rằng, từ những bước chân đi tìm kế sinh nhai lại mở đầu cho hành trình hồi sinh một vùng đất hoang vu sau chiến tranh.

Nhưng sự lựa chọn ấy lại gặp đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước đưa dân ra bám đất, giữ gìn biên cương. Từ những hộ dân đi tìm đất sống, một bản làng mới dần hình thành nơi vùng đất trắng. Đó là sự gặp gỡ giữa ý Đảng và lòng dân. Trong những người tiên phong năm ấy, Thào Dìn là một gương mặt tiêu biểu, bởi ông đã bền bỉ gắn bó với vùng đất này gần 4 thập niên.

leftcenterrightdel

 Tác giả gặp gỡ ông Thào Dìn (bên trái).

Ông Thào Dìn kể lại những ngày đầu lập nghiệp vô cùng gian khó. Nơi ở chỉ là những túp lều tạm bợ dựng giữa vùng đất hoang vu như những lều nương. Đường chưa có. Dầu hỏa cũng thiếu, nói gì đến ánh điện. Cái đói luôn bủa vây cả bản. Bù lại, những con suối nơi đây giúp bà con không còn phải vật lộn với cảnh khan hiếm nước sinh hoạt như ở Dìn Chin.

Nhớ lại quãng thời gian ấy, ông Thào Dìn cười hiền, nhắc lại suy nghĩ của người dân: “Đốt lửa cả ngày mà cái nồi treo trên vách vẫn mốc meo thì miếng ăn ở bên kia thác cũng phải sang tìm chứ!”.

“Bên kia thác”, theo cách nói ẩn dụ của người Mông khi ấy, chính là bên kia biên giới. Cái đói đã đẩy nhiều người sang làm thuê. Những người đi đầu dựng bản như già làng Thào Khai Lẻng cùng Thào Minh, Thào Dìn cũng từng có những tháng ngày đào hố, bẻ ngô, gùi phân, phát cỏ để đổi lấy miếng ăn.

Chính những tháng ngày làm thuê đã làm thay đổi cách nghĩ của ông Thào Dìn và nhiều người trong bản. Họ nhận ra nơi làm thuê cũng là núi đồi như quê mình, nhưng những sườn đồi ở đó phủ kín chuối, dứa, cao su và nhiều loại cây hàng hóa khác. Người dân bảo nhau: Đi làm thuê không chỉ để kiếm miếng ăn mà còn để học cách làm ăn của người ta chứ.

Thào Dìn là một trong những người đi đầu. Khoảng cuối năm 1992, thay vì nhận hết tiền công, ông xin chủ trả một phần bằng cây giống mang về trồng trên đất quê nhà. Việc làm ấy ban đầu khiến nhiều người ngạc nhiên, nhưng khi những đồi dứa, đồi chuối đầu tiên cho hiệu quả, bà con bắt đầu làm theo. Chỉ sau vài năm, những sườn đồi hoang hóa đã được phủ xanh bởi các loại cây hàng hóa. Nông sản không chỉ bán cho các nhà máy chế biến trong nước mà còn xuất sang thị trường bên kia biên giới.

Có lẽ ngay cả những người giàu trí tưởng tượng nhất ngày ấy cũng khó hình dung được tốc độ đổi thay của vùng đất này. Chỉ sau vài năm, Cốc Phương đã trở thành “điểm sáng vùng biên ải”, thu hút nhiều đoàn công tác ở Trung ương và các địa phương đến tham quan, học tập.

Từ một người đi mở đất, ông Thào Dìn vươn lên thành hộ sản xuất tiêu biểu. Ông là người Mông đầu tiên của thôn được kết nạp Đảng năm 2001, được bà con tín nhiệm bầu làm trưởng thôn, được công nhận là nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi cấp Trung ương và được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen năm 2002. Từ những mô hình do ông và bà con tiên phong gây dựng, cây dứa, cây chuối dần trở thành thế mạnh kinh tế của cả xã Bản Lầu, góp phần đưa địa phương về đích nông thôn mới năm 2015.

Theo ông Thào Dìn, điều thay đổi lớn nhất không phải những đồi cây trái hôm nay mà là sự đổi thay trong nếp nghĩ, cách làm của người dân. Từ chỗ chỉ quen phát nương, chọc lỗ bỏ hạt, bà con đã biết áp dụng khoa học kỹ thuật, sản xuất hàng hóa, tính toán thị trường và liên kết tiêu thụ sản phẩm. Chính từ sự đổi thay ấy, những người từng đi làm thuê kiếm miếng ăn qua ngày đã trở thành chủ nhân của những vùng cây hàng hóa trù phú. Trong hành trình dựng lại bản làng trên vùng đất trắng, sự đồng hành của Bộ đội Biên phòng có ý nghĩa đặc biệt. Những cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Bản Lầu đã đồng hành với bà con dựng nhà, khai hoang, ổn định cuộc sống và hướng dẫn sản xuất.

Qua trao đổi với Trung tá Nguyễn Văn Ước, Chính trị viên Đồn Biên phòng Bản Lầu, tôi hiểu rằng, đằng sau những đổi thay của vùng biên hôm nay là sự gắn bó bền bỉ của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ luôn bám đơn vị, bám địa bàn và bám chủ trương, chính sách; cùng ăn, cùng ở, cùng làm và cùng nói tiếng đồng bào để gần dân, hiểu dân, giúp dân. Nhiều người lính biên phòng khi ấy không chỉ là cán bộ tuyên truyền mà còn là người bạn, người thầy của dân bản; hướng dẫn bà con chấp hành pháp luật, thực hiện các quy định về đối ngoại nhân dân, cùng tham gia bảo vệ đường biên, cột mốc và gìn giữ tình hữu nghị giữa nhân dân hai bên biên giới.

leftcenterrightdel

Ông Thào Dìn (ngoài cùng, bên trái) giới thiệu với khách tham quan, năm 2001. 

Nay ở tuổi 64, ông Thào Dìn vẫn đều đặn lên nương, chăm sóc cây trái và động viên con cháu làm ăn. Ông bảo điều khiến mình vui nhất không phải là những danh hiệu đạt được, mà là thế hệ hôm nay không còn phải đi tìm miếng ăn nơi đất khách như lớp người đi trước. Việc quản lý biên giới giờ đã khác xưa, không còn những cửa khẩu tiểu ngạch tấp nập hay cảnh người dân tự do qua lại làm ăn như trước. Nhưng ông tin lớp trẻ hôm nay được học hành đầy đủ hơn, có kiến thức và tầm nhìn rộng mở hơn thế hệ của mình, sẽ biết tìm con đường phát triển mới để cùng quê hương hòa vào dòng chảy chung của đất nước.

Chia tay ông Thào Dìn, tôi cùng ông đi bộ qua chiếc cổng chào đầu bản. Ông nhắc về thế hệ những người đầu tiên đã cùng nhau thắp lên ngọn lửa trên vùng đất trắng này. Già bản Thào Khai Lẻng đã về với tổ tiên; nhiều người tiên phong năm ấy cũng đã bước sang tuổi xế chiều. Nhưng nhìn những thanh niên chở hàng trên con đường mới, nhìn lũ trẻ ríu rít đạp xe tới trường dưới cổng chào thôn kiểu mẫu, tôi hiểu rằng Cốc Phương của những ngày hoang vu, đói nghèo và bom, mìn giờ chỉ còn là ký ức.

Nhìn người đảng viên dân tộc Mông mái tóc đã điểm bạc chậm rãi bước giữa bản làng mình góp công gây dựng, tôi hiểu vì sao một vùng đất trắng năm nào có thể hồi sinh. Đó là thành quả của sức dân, của những chủ trương đúng đắn và sự đồng hành bền bỉ của những người lính quân hàm xanh nơi biên cương. Trong hành trình ấy có dấu chân của ông Thào Dìn-người đã dành cả cuộc đời mình bám đất, bám dân, bám biên giới, lặng lẽ thắp lên niềm tin và khát vọng trên miền biên ải.

Bài và ảnh: NGUYỄN VĂN CỰ