Trong căn phòng làm việc với đồ đạc khá giản dị, điều anh chia sẻ với chúng tôi đầu tiên là chủ trương liên quan đến đời sống của các gia đình bị ảnh hưởng bởi chất độc hóa học trong chiến tranh. Anh cho biết, sắp tới, đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học cũng sẽ được Đảng, Nhà nước quan tâm hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát, tương tự như các gia đình chính sách khác. Theo số liệu anh nắm được, sẽ có khoảng 1.000 người trên toàn quốc sẽ được thụ hưởng từ quyết định đầy nhân văn này.
Khởi nguồn chuyện ấy là: Trong chương trình vận động hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát được Chính phủ triển khai rộng khắp, một số đối tượng bị ảnh hưởng bởi chất độc hóa học trong chiến tranh chưa nằm trong diện thụ hưởng. Suốt hơn một năm qua, trong nhiều cuộc họp, nhiều cuộc làm việc ở các cấp, Thiếu tướng Nguyễn Đình Hiền đã nêu ra tâm sự day dứt này với nhiều đồng chí lãnh đạo. Họ nói với anh, muốn giải quyết được vấn đề chính sách cho đối tượng phải có căn cứ, cơ sở pháp lý và đặc biệt là nguồn kinh phí phù hợp để đề xuất thực hiện.
    |
 |
Thiếu tướng Nguyễn Đình Hiền, Tư lệnh Binh chủng Hóa học, chuyên gia về phòng hóa tặng quà người khuyết tật nhân Ngày Quốc tế Người khuyết tật. Ảnh: HƯNG MINH
|
Bài toán ấy không hề đơn giản. Muốn có chủ trương thì phải có hồ sơ chặt chẽ, số liệu xác đáng, phải làm rõ được tính cần thiết, tính nhân văn, tính khả thi; muốn có quyết định thì phải có phương án nguồn lực. Đứng trước việc khó, anh không dừng ở nêu kiến nghị mà chỉ đạo cơ quan của Binh chủng Hóa học phối hợp với Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam rà soát thông tin, đối chiếu số liệu, phân tích thực trạng, hoàn thiện các văn bản để báo cáo, đề xuất tới các bộ, ngành, cơ quan của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Trên cương vị Tổng giám đốc Trung tâm Hành động quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học và môi trường (NACCET), Thiếu tướng Nguyễn Đình Hiền đã tham mưu, đề xuất để nguồn viện trợ nhân đạo hợp pháp do các tổ chức nước ngoài hỗ trợ được sử dụng đúng mục đích, góp phần chăm lo tốt hơn cho các nạn nhân bị ảnh hưởng. Anh nói, đây không chỉ là câu chuyện hỗ trợ vật chất. Điều quan trọng hơn là giúp họ giảm bớt mặc cảm, cảm thấy không bị bỏ quên, có thêm niềm tin và nghị lực để vươn lên trong cuộc sống.
Chúng tôi từng nhiều lần đến với các gia đình nạn nhân chất độc da cam/dioxin. Nỗi đau mà chiến tranh để lại không chỉ dừng lại ở những người trực tiếp tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu mà còn kéo dài sang con, sang cháu. Có những gia đình nhiều năm liền sống trong khó khăn, bệnh tật đeo bám, kinh tế kiệt quệ vì thuốc thang, điều trị. Có người trở thành lao động chính nhưng cũng là người mang trong mình bệnh tật. Có gia đình cả cuộc đời chỉ chắt chiu trong số tiền trợ cấp ít ỏi, chưa khi nào thực sự được hưởng một cuộc sống trọn vẹn. Bởi vậy, những nỗ lực của anh Hiền và đồng đội không chỉ là công việc chuyên môn, mà là một hành động giàu ý nghĩa nhân văn, góp phần để chủ trương “không ai bị bỏ lại phía sau” đi vào đời sống bằng những việc làm cụ thể.
Thiếu tướng Nguyễn Đình Hiền, sinh năm 1973, quê ở phường Trí Quả, tỉnh Bắc Ninh. Đó là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa, gắn với Luy Lâu, chùa Dâu, chùa Bút Tháp, tranh Đông Hồ và mạch nguồn văn hóa Kinh Bắc đậm đặc. Có lẽ chính chiều sâu của vùng đất ấy cùng truyền thống gia đình, quê hương đã góp phần bồi đắp trong anh một lối sống điềm đạm, trọng nghĩa tình, giàu suy tư.
Thời còn học phổ thông, anh là cán bộ lớp, học tốt các môn tự nhiên, trong đó môn hóa học luôn có kết quả nổi bật trong toàn khối. Khi nhiều bạn bè chọn con đường thi đại học hoặc học nghề, anh lại mang trong mình ước muốn vào bộ đội. Tháng 3-1992, anh nhập ngũ vào đơn vị của Sư đoàn 370, sau đó được cử đi học văn hóa, ôn thi sĩ quan. Khi nghe giới thiệu về các trường sĩ quan Quân đội, thấy có Trường Sĩ quan Phòng hóa, anh quyết định lựa chọn. Lý do rất mộc mạc: Vì thích môn hóa học và nghĩ rằng đó là một lĩnh vực phù hợp với mình. Chính sự lựa chọn đơn giản ấy đã gắn bó anh trọn vẹn với một nghề vừa đặc thù, vừa thầm lặng, vừa đòi hỏi trí tuệ, bản lĩnh và trách nhiệm rất cao.
Tốt nghiệp năm 1997, anh được điều về làm Trung đội trưởng Vệ binh thuộc Bộ Tham mưu Binh chủng Hóa học. Đến năm 2000, anh mới được điều động về đơn vị làm Phó đại đội trưởng rồi Đại đội trưởng Đại đội 16, Tiểu đoàn 903, Trung đoàn 86 (nay là Lữ đoàn 86). Nhưng tới năm 2004, khi Thượng úy Nguyễn Đình Hiền được giao làm Đại đội trưởng Đại đội 10 trực thuộc Trung đoàn 86, phẩm chất sáng tạo trong con người anh mới thật sự bộc lộ rõ.
Đó là đơn vị thực hiện nhiệm vụ đặc thù, mới thành lập chưa lâu, nhiều nội dung huấn luyện còn rất sơ lược, giáo án chưa hoàn chỉnh, tình huống cụ thể gần như chưa có. Trong điều kiện ấy, người cán bộ trẻ không chọn cách làm cầm chừng. Anh lục lại những tài liệu mình đã học ở trường, tìm đọc thêm các nguồn tư liệu liên quan, trao đổi với đồng đội, bạn bè để chắt lọc lấy những gì hữu ích nhất. Từ nền tảng còn rất mỏng ấy, anh bắt đầu viết tài liệu, xây dựng kịch bản, soạn giáo án huấn luyện theo từng tình huống giả định, từ mức độ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.
Điều đáng quý là anh không làm theo kiểu chắp vá, đối phó. Từng nội dung đều được tính toán để phù hợp với thực tiễn, với trang bị hiện có, với trình độ bộ đội, với đặc điểm đội hình, với yêu cầu an toàn. Trong đó, nổi bật là cách xử trí các tình huống khủng bố và kích động bạo loạn ở các cấp độ khác nhau; làm sao để vừa nhanh, vừa hiệu quả, nhưng vẫn bảo đảm an toàn tối đa cho bộ đội và hạn chế thấp nhất những hậu quả không đáng có. Đây là nội dung rất khó, bởi chỉ cần một sơ suất nhỏ trong tổ chức đội hình, hiệp đồng hay xử trí tình huống là có thể làm giảm hiệu quả nhiệm vụ, thậm chí gây nguy hiểm cho lực lượng thực hiện.
Khó khăn lớn nhất khi ấy với anh Hiền không chỉ là thiếu tài liệu mà còn là điều kiện thao trường và cả tâm lý e ngại của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trước những kiến thức quá mới. Nhưng anh không nản. Anh chọn cách kiên trì thuyết phục bằng tri thức, bằng hiệu quả công việc và bằng chính hành động của mình.
Để tổ chức luyện tập thử nghiệm, anh liên hệ với các hộ dân trồng hoa ở Tây Tựu (Hà Nội) và triển khai đội hình trên thực địa. Đó là quyết định vừa táo bạo vừa đòi hỏi tinh thần trách nhiệm rất lớn. May mắn là với sự ủng hộ của người dân và thái độ huấn luyện nghiêm túc của đội mẫu, buổi luyện tập diễn ra thành công, không ảnh hưởng đến hoa màu. Đến nay, nhiều người dân địa phương vẫn còn nhớ những màn khói trắng đục lan trên ruộng hoa vào những buổi sáng sớm hoặc giữa trưa nắng mà không hiểu vì sao khi ấy lại “có cảnh tượng lạ” như vậy.
Sau lần huấn luyện đầu tiên, anh Hiền tiếp tục bổ sung lý luận, chỉnh sửa chi tiết, đưa đội mẫu ra luyện tập lại nhiều lần để hoàn thiện giáo án. Chỉ khi thấy nội dung thật sự chặt chẽ, khả thi, an toàn, anh mới báo cáo đề nghị áp dụng. Khi trình diễn, giáo án của anh được cấp trên đánh giá cao bởi tính hệ thống, thực tiễn và hiệu quả.
Nhưng có lẽ điều làm anh vui hơn cả không phải là lời khen, mà là khi những nội dung huấn luyện ấy đi vào thực tế và cho kết quả rõ rệt. Từ chỗ lực lượng phòng hóa thường tham gia ở những khâu sau, nay vai trò đã được phát huy sớm hơn, chủ động hơn, hiệu quả hơn. Theo anh Hiền, ở những nhiệm vụ đặc thù, càng phát hiện sớm, càng xử trí đúng lúc, đúng cách ngay từ đầu thì hiệu quả càng cao, thiệt hại càng thấp. Tư duy đi trước một bước trong chuẩn bị, phải làm chủ tình huống, phải lấy an toàn của nhân dân, an toàn của bộ đội làm trung tâm tiếp tục theo anh trong nhiều cương vị công tác khác. (còn nữa)
HỮU THẾ - MINH HƯNG