Chiều tà, mây từ những khe suối dưới chân núi lùa kéo nhau phủ quanh bản Sài Khao. Những đứa trẻ trong bản mong manh áo vải, chơi đùa bên đống lửa ở hiên nhà. Cuối con dốc, từng đàn trâu, bò, dê được đồng bào Mông đưa về chuồng. Thiếu tá Lò Văn Hiền, cán bộ Đồn Biên phòng Pù Nhi (Bộ đội Biên phòng tỉnh Thanh Hóa), được tăng cường về làm Phó bí thư Đảng ủy xã Tam Chung, huyện Mường Lát đi cùng bật mí: “Sài Khao đi lên từ những đàn trâu, đàn bò đó! Đời sống bà con giờ đây khá hơn rất nhiều so với 5 năm về trước, “khát vọng nơi đỉnh trời” về một cuộc sống ấm no đang bừng sáng trong từng ngôi nhà của bản”.

Tối hôm đó, chúng tôi quyết định thức đêm tại bản để cảm nhận cái lạnh “cắt da cắt thịt” nơi biên viễn miền Tây Tổ quốc, để được nghe những khát vọng vươn lên thoát đói nghèo nơi đỉnh trời ra sao. Bằng cách nào mà Sài Khao từ một bản kiệt quệ vì ma túy, đất đai khô cằn, đồng bào thiếu đói triền miên, nay cuộc sống ngày một đổi thay?

 
leftcenterrightdel
Chuyện làm ăn, học hành luôn được bà con ở bản đưa ra bàn luận. 

Đêm buông xuống, Sài Khao chìm trong bóng tối tịch mịch vì bản chưa có điện lưới quốc gia, chưa có sóng điện thoại. Đồng chí Vàng A Lế, Bí thư chi bộ bản mời đại diện những người có uy tín đến và mổ gà đãi khách miền xuôi. Chén rượu ngô thắm đượm tình đồng bào được rót ra cũng là lúc gió bắt đầu thổi mạnh, lùa vào từng thớ thịt khiến chúng tôi run lên bần bật. Vàng A Ánh, em trai của Vàng A Lế vừa chạy vội chèn cửa vừa nói: “Thứ gió độc này làm người hay ốm lắm!”.

Thế đấy! Vùng đất khô cằn này, không chỉ giao thương đi lại khó khăn mà đến khí trời cũng độc, mọi thứ dường như bất lợi với cuộc sống của người dân nơi đây. Theo ông Vàng A Sấu, sinh năm 1932, người cao tuổi nhất bản thì mảnh đất Sài Khao trước năm 1945 là nơi sinh sống của đồng bào Thái và Dao. Trước đây, tên của bản gọi theo khe suối là suối Sài Khao (tiếng Thái), dịch ra tiếng Việt là suối Cát Trắng. Sau năm 1945, vì điều kiện chiến tranh, khó khăn về lương thực, thực phẩm, nguồn nước nên đồng bào Thái, Dao di cư sang các vùng khác. Đến năm 1991, đồng bào Mông từ Sơn La mới về đây định cư. Cuộc sống 5 năm về trước hay quãng thời gian về trước nữa, ông Sấu không muốn kể vì nó khổ quá, nghèo quá! Mọi sự đổi thay khi chính quyền và các đoàn thể trong xã cùng với lực lượng biên phòng vận động bà con bạt núi làm đường, kết nối giao thương với xã vùng thấp và thị trấn. “Con đường làm gian nan lắm! Nhưng có nó thì dân bản mới đưa được con heo, con gà, bí ngô, bí xanh ra phố huyện bán, rồi học tập cái hay, cái tốt của đồng bào Kinh, Thái về xây dựng bản”-anh Vàng A Sú, người có uy tín trong bản tâm sự.

Có hai điều đồng bào Mông quyết tâm học tập để thay đổi cuộc sống ngày một đi lên là chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và cho con học “lấy cái chữ”. Hiện cả bản Sài Khao có 90 hộ với 552 nhân khẩu, tổng diện tích đất canh tác hơn 73ha; tổng số gia súc gần 300 con. Như vậy, tính trung bình mỗi hộ có 3 gia súc, đây được xem là sự chuyển mình đi lên của bản, mà người dẫn lối đầu tiên là Vàng A Sú. Đồng chí Đinh Công Đại, Bí thư Đảng ủy xã Mường Lý cho biết: “15 năm, Vàng A Sú là công an viên, sau này kiêm trưởng bản (1994-2008) là ngần ấy thời gian bản Sài Khao không xảy ra tình trạng mất an ninh, trật tự. Nhờ tấm gương làm kinh tế của gia đình anh Sú, nhiều hộ trong bản đã học tập, làm theo và kinh tế dần ổn định”.

Anh Vàng A Sú nhớ lại: “Ngày trước, đồng bào trong bản chủ yếu nuôi trâu, bò thả trên rừng. Những đợt rét đậm, rét hại đã cướp dần từng con trâu, bò của bà con. Học tập được kinh nghiệm của đồng bào Thái, cứ mùa đông về, mình đưa trâu, bò về chuồng trại, căng bạt để tránh gió lùa, nền lót rơm cho trâu, bò nằm nên không con nào bị chết rét cả. Từ kinh nghiệm của bản thân, tại các buổi họp bản, mình phổ biến cho bà con cách làm chuồng nuôi chống rét, các hộ làm theo và rất hiệu quả”. Từ đó, phong trào chăn nuôi nở rộ trong bản Sài Khao, nhiều gia đình mạnh dạn vay vốn tín dụng từ ngân hàng để phát triển đàn gia súc. Giờ đây, nhiều gia đình đã thoát được đói nghèo nhờ đàn trâu, bò như gia đình Vàng A Dự nuôi 11 con; Vàng A Lự nuôi 12 con...

Trong chuyển đổi cây trồng, đồng bào Mông ở Sài Khao mấy năm qua đã mạnh dạn chuyển đổi những mảnh lúa rẫy kém năng suất sang trồng chít, lấy bông làm chổi. Năm vừa qua, gia đình anh Vàng A Phụng trồng chít cho thu hoạch 30 triệu đồng/năm. “Nếu mình trồng chít, rào kỹ không cho trâu, bò vào phá thì cây chít có thể cho thu hoạch 4-5 vụ mà công chăm sóc không tốn kém. Một sào chít, năm đầu cho thu hoạch 5 triệu đồng, năm sau tăng lên gấp đôi. Nhờ tiền bán bông chít, nhà mình mới sắm được chiếc xe máy mới đấy”-anh Vàng A Phụng phấn khởi cho biết.

leftcenterrightdel
 Một góc bản Sài Khao.

Một câu chuyện không kém phần sôi nổi để Sài Khao trở thành điểm sáng về giáo dục của xã Mường Lý là số con em đi học các cấp ngày một đông. Trong đó, học sinh bậc mầm non (52 em); tiểu học (82 em); trung học cơ sở (35 em); trung học phổ thông (12 em), đặc biệt có 3 em đã tốt nghiệp đại học là Vàng A Giàng (hiện làm cán bộ tư pháp xã Mường Lý); Vàng A Mai và Vàng A Chua. Nhiều năm gắn bó với bản Sài Khao, Trung úy QNCN Hơ Văn Chá, nhân viên trinh sát Đồn Biên phòng Pù Nhi tâm sự: “Nếu ở một số địa bàn của huyện Mường Lát, cán bộ biên phòng và các thầy cô giáo cắm bản phải đi từng nhà vận động học sinh đến lớp thì ở Sài Khao không còn tình trạng đó nữa. Cha mẹ quan tâm hơn đến việc học của con cái. Đặc biệt, trong các dịp gia đình đoàn tụ, những tấm gương về học tập của bản như Vàng A Giàng, Vàng A Chua... luôn được ông bà, bố mẹ các em kể để nhắc nhở cháu, con noi theo”. Lời tâm sự của Trung úy QNCN Hơ Văn Chá đã được chúng tôi kiểm chứng, khi đi dọc tuyến đường của bản, trong mỗi nếp nhà đồng bào Mông giữa đêm đông giá lạnh luôn sáng lên ánh đèn. Từ những ngôi nhà ấy vang lên tiếng tập đọc vần ê a của trẻ và thấp thoáng những gương mặt trẻ thơ đang tập làm những phép tính cộng, trừ...

Chúng tôi rời Sài Khao khi trời vừa hửng chút nắng yếu ớt của mùa đông, nhìn từng đàn trâu, bò lũ lượt nối đuôi nhau trên những ngả đường hướng về các cánh rừng, cảm giác hoang lạnh của miền biên ải bỗng tan biến. Sài Khao vẫn còn lắm gian khó, nhưng chúng tôi nghĩ không lâu nữa, ấm no sẽ tràn khắp bản từ khát vọng vươn lên của chính đồng bào Mông nơi đỉnh trời này.

Bài và ảnh: DUY THÀNH