Phóng viên (PV): Thưa ông, có thể nói ông đã trải qua tuổi niên thiếu trong giai đoạn lịch sử đặc biệt của đất nước, chắc hẳn những năm tháng ấy vẫn còn rất rõ nét trong tâm trí của ông?

Nhà văn Phạm Thắng: Tôi sinh ra và lớn lên ở ngõ Đông Xuyên, Phố Huế, Hà Nội. Tuổi thơ của tôi giống như các bạn cùng trang lứa khi ấy, cũng là những trò chơi đùa, thách đố nhau của lũ trẻ nhỏ, những việc làm tinh nghịch tự nghĩ ra để thể hiện là mình đã lớn rồi bị bố đánh đòn, là những buổi lên lớp học cùng chúng bạn… Nhưng có lẽ đáng nhớ nhất chính là những ngày tôi được vào Đội Nhi đồng cứu quốc Phố Huế, khua vang trống ếch trong “Tuần lễ vàng cứu nước”, ngày ngày đi dọc các đường phố cổ động phong trào “Diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”. Rồi những ngày tôi được vào Đội Thiếu niên liên lạc trinh sát với nhiệm vụ sẵn sàng chuyển lệnh chiến đấu. Toàn quốc kháng chiến, tôi qua nhiều đơn vị, nhiều trận địa, cuối cùng, tôi được chọn vào Đội Thiếu niên quân báo Tiểu khu Mê Linh-Đề Thám mà sau này là Đội Thiếu niên tình báo Bát Sắt thuộc Công an quận 6.

leftcenterrightdel
Nhà văn Phạm Thắng

Sau khi Trung đoàn Thủ Đô rút khỏi Liên khu 1, một tổ gồm 5 đội viên Đội Bát Sắt, trong đó có tôi nhận lệnh lên đường xuất phát từ làng Huỳnh Cung (nay là Thanh Trì, Hà Nội) tìm lối đi bí mật trở về Hà Nội tạm chiếm, mở đầu sự hình thành trận tuyến thầm lặng trong lòng Thủ đô Hà Nội bị quân Pháp tạm chiếm. Từ cuộc mở đường bí mật thành công, hơn 20 đội viên Bát Sắt lần lượt được tung vào hoạt động trong lòng địch với những nhiệm vụ hiểm nguy, táo bạo như: Gây dựng cơ sở, điều tra nắm tình hình địch, dẫn đưa cán bộ ra vào hoạt động, tiễu trừ Việt gian, phản động, lọt vào hang ổ kẻ thù để săn tìm tin tức… Tôi may mắn là đội viên Bát Sắt từ khi thành lập đến ngày kết thúc sứ mệnh vẻ vang của đội cuối năm 1948 với bao kỷ niệm không thể nào quên trong những lần tôi và các bạn thực hiện nhiệm vụ. Nào là giả làm trẻ lang thang đánh giày, bán báo, tối ngủ ở gầm cầu, ghế đá, vỉa hè, vườn hoa với bao tải làm chăn; nào là làm bồi bàn cho tiệm nhảy có nhiều lính Pháp, ngụy… Đó còn là những lần đưa công văn gặp lính Pháp, ngụy phải nhanh trí nghĩ cách thoát thân, bảo vệ công văn an toàn; là những ngày thâm nhập vào lòng địch làm con nuôi cho cặp vợ chồng quan hai Tây, mỗi lần được bố mẹ nuôi đưa đi chơi bằng ô tô trên phố đều phải cúi rạp mặt xuống vì sợ các bạn trong đội nhìn thấy nghĩ mình phản bội mà dao động, khi bị lộ vẫn bình tĩnh hủy hết tài liệu rồi thoát thân; là lần nhận nhiệm vụ đầy xúc động cùng các bạn cắm lá cờ Tổ quốc lên ngọn Tháp Rùa nhân kỷ niệm lần thứ 3 Quốc khánh nhằm gây niềm tin phấn khởi trong lòng đồng bào Hà Nội… Và còn bao kỷ niệm nữa về những tháng ngày thương nhớ ấy.

PV: Ông có cảm thấy những việc ấy dường như hơi quá sức với những cậu bé mới hơn 10 tuổi? Điều gì đã khiến thế hệ thiếu niên các ông “lớn” trước tuổi như vậy?

Nhà văn Phạm Thắng: Chúng tôi lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị giặc giày xéo, người dân lầm than cơ cực. Có lẽ sống và chứng kiến những điều ấy khiến chúng tôi tự ý thức, hiểu được nhiều chuyện mà chẳng cần ai phải giáo dục lý tưởng hay giác ngộ. Tôi mồ côi mẹ từ nhỏ, nhà có 6 anh chị em, tôi là con út vốn được chiều. Năm đói Ất Dậu 1945, bố tôi thất nghiệp, anh bị đuổi việc, các chị phải nghỉ học, tôi cũng thất học. Hai chị tôi phải nặn bánh rán bán nhưng 10 buổi chợ thì 7 buổi về tay không vì bị những người ăn xin các nơi đổ về Hà Nội đến khạc nhổ vào bánh nên đành chia hết cho họ, trong khi đó, cả nhà phải đi vay từng bơ gạo nấu cháo, đồ đạc trong nhà bị bố bán dần để lần hồi sống.

leftcenterrightdel
Ký ức về thời niên thiếu được thể hiện trong những cuốn sách của nhà văn Phạm Thắng

Tôi còn nhớ khi ấy, hàng vạn dân đói rách từ nông thôn các tỉnh kéo về Hà Nội ăn xin. Số đông trong họ chỉ có mảnh vải xơ xác che bộ xương bọc da nhăn nhúm, không thể đoán tuổi, không biết giới tính. Người chết đói nằm la liệt khắp ngõ hẻm, đầu đường, góc phố. Những chiếc xe bò chở xác người chết rắc vôi bột trắng xóa lộc cộc lăn bánh trên phố. Mùi tử thi xú uế bốc lên theo từng cơn gió...

Tôi cũng được thấy và thầm tự hào về những “hành vi bí ẩn” của người anh trai cả trong những ngày đồng bào cướp kho thóc Nhật, những tập truyền đơn anh giấu. Tôi còn bí mật cắt dán lá cờ đỏ sao vàng bằng bao diêm dán ở trang sách, cố ý lật giở để hai người bạn ngồi bên nhìn thấy khiến các bạn kinh ngạc. Tôi cũng được hòa vào dòng người đỏ rực cờ sao trong ngày Việt Minh giành chính quyền, được dự Lễ Tuyên ngôn Độc lập ở Quảng trường Ba Đình, được tham gia đội trống ếch làm hàng rào danh dự trong “Tuần lễ vàng”, được chứng kiến cảnh từ bà hàng xôi chè khép nép, nghẹn ngào đến vái lậy bàn thờ Tổ quốc vì chỉ có một lai vàng hiến cho đất nước đến những người trung lưu yêu nước tháo hết vòng, kiềng, hoa tai, nhẫn vàng hiến mà không cần ghi tên vào sổ vàng danh dự; tôi được chứng kiến giờ phút đại bác ở Pháo Đài Láng nổ ngày Toàn quốc kháng chiến, được thấy tinh thần người Hà Nội với khẩu hiệu “sống chết với Thủ đô” được truyền miệng từ người này sang người kia; được thấy các anh chị của mình đều không chịu đi tản cư, mỗi người một việc tham gia vào cuộc chiến…

Tất cả khiến mọi thứ đến với tôi và các bạn một cách tự nhiên. Chính hoàn cảnh, thời cuộc buộc tuổi thơ hồn nhiên của chúng tôi bị cắt xén ngắn lại và lớn sớm hơn.

PV: Có phải vì những ngày đáng nhớ ấy mà hầu hết những sách ông viết đều từ chuyện thời niên thiếu của mình và viết dành cho các bạn nhỏ? Ông có nghĩ những cuốn sách đó sẽ góp phần hun đúc lòng yêu nước cho thế hệ trẻ?

Nhà văn Phạm Thắng: Thú thực trước đây, tôi chưa hề nghĩ đến việc viết ra những câu chuyện này để làm gì. Đó là những gì mình có, thôi thúc mình phải viết ra. Chỉ đến khi được hỏi những câu tương tự như trên, tôi mới nghĩ có thể nó cũng góp phần nào đó. Tôi chỉ nghĩ, tuổi thiếu niên của mình có chút đặc biệt và chính nó đã khơi gợi cho tôi viết lại. Và từ cơ sở những nét riêng của mình, tôi cố gắng tạo nên nét chung nhất sao cho các cháu thiếu niên, nhi đồng đọc đều thích, thấy gần gũi, hấp dẫn. Từ đó phần nào khiến các cháu thích đọc sách hơn, đọc sách nhiều hơn một chút thì sẽ ít đi chơi lông bông hơn một chút.

Có điều hiện nay viết sách cho lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng, nhất là những sách mang tính lịch sử, giáo dục là một thách thức với cả tác giả và các nhà xuất bản. Bởi sách này thường khó bán mà trong cơ chế thị trường, các nhà xuất bản buộc phải làm những sách truyện hấp dẫn trẻ, sách theo xu hướng bán chạy, in được số lượng lớn thì mới nuôi sống được mình. Ví như cuốn “Đội Thiếu niên tình báo Bát Sắt” của tôi khi mới ra đời rất nhiều người thích, đã tái bản lần thứ 8, nhưng nay nếu muốn in tiếp thì các nhà xuất bản còn phải cân nhắc rất nhiều. Dần dần, sách thiếu nhi về lịch sử, mang tính tiếp bước cha anh e rằng sẽ dần mai một đi, thay vào đó là những sách truyện nước ngoài dài hàng chục tập.

PV: Thời gian trôi qua với những thay đổi nhanh chóng của đời sống xã hội, nhìn vào thế hệ thiếu niên hôm nay, ông có cảm nhận gì?

Nhà văn Phạm Thắng: Thời của tôi cách đây đã 70 năm. Tôi nhớ thiếu niên lúc đó hầu hết đều ngoan, gọi dạ bảo vâng, khó mà tìm được ai lếu láo. Tức nhau, giận nhau lắm cũng không nói tục, chửi thề, trách nhau vẫn xưng đằng ấy với tớ. Có nghịch ngợm, trêu nhau, xui dại nhau nhưng vẫn thương nhau, đối xử với nhau rất nhân văn. Trước khi ăn cơm bao giờ cũng mời bố mẹ, anh chị, thấy khách tới nhà khoanh tay cúi đầu chào. Vậy nên khi đi vào cuộc kháng chiến thì tính kỷ luật rất cao, cũng chính những điều đó phần nào làm cho mình trưởng thành sớm, hay nói vui là thành “ông cụ non” sớm.

Bây giờ tôi thấy nhiều cháu dễ nói tục, chửi bậy, có khi vì mâu thuẫn nhỏ mà kéo nhau đánh hội đồng bạn. Điều đó thể hiện việc quan tâm giáo dục nhân cách, xây dựng kỹ năng sống cho trẻ của người lớn bây giờ.

Nhưng nói công bằng thì ở khía cạnh khác, các cháu bây giờ nhanh nhẹn, khôn ngoan hơn chúng tôi rất nhiều. Phần lớn các cháu có cuộc sống đủ đầy, biết nhiều, nhanh tiếp cận công nghệ mới, nhạy bén với cuộc sống, được học các môn năng khiếu… Có lẽ phải vậy mới đáp ứng được sự phát triển, hội nhập của đất nước. Mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi thời có hoàn cảnh, đặc điểm khác nhau, nếu tôi mang những tư tưởng của thời mình để áp đặt cho thời nay thì có lẽ không phù hợp!

PV: Trân trọng cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!

DƯƠNG THU (thực hiện)