Phóng viên (PV): Thường thì độc giả hay hỏi các nhà văn rằng tại sao anh viết văn? Với Nguyễn Việt Hà, câu trả lời của ông là gì khi ông được coi là một nhà văn xuất hiện muộn?

Nhà văn Nguyễn Việt Hà: Tôi học ngành kinh tế rồi ra trường đi làm ở một ngân hàng nhà nước chừng 20 năm, trước khi quyết định nghỉ để theo nghiệp viết. Trong từng ấy năm, không ai biết tôi viết văn. Có điều ở thời tôi, sinh viên không làm thơ thì cũng hay viết ngăn ngắn. Và có nhiều người tuy học kinh tế nhưng làm thơ rất hay. Đại loại nhà thơ, nhà văn thường có xuất xứ mênh mông. Thực tế nhiều nhà văn thành danh ở Việt Nam, kể cả thế giới, cũng đều không học văn.

Nhà văn Nguyễn Việt Hà. Ảnh: THU HÒA

Khi trả lời câu hỏi vì sao phải viết thì nhiều người coi đó là sứ mệnh, trách nhiệm... nhưng văn chương thực ra là một sự trải nghiệm đẫm đầy riêng tư. Hơn nữa, Lev Tolstoy từng nói đại ý, ông không tin những người viết tiểu thuyết dưới 30 tuổi và càng không tin những người viết trên 70 tuổi. Nghĩa là "tuổi vàng" của một tiểu thuyết gia ở khoảng 35 đến 55-tuổi có độ chín cả về trí tuệ, thể lực. Người ta phải sống đã rồi mới viết được. Thường tuổi trẻ ai cũng có lý tưởng, những yêu đương, niềm tin, mơ mộng, thất vọng... nhưng 10 chuyện thì 9 chuyện không như ý và tôi coi 9 chuyện không như ý đó là động lực để viết. Ngoài ra có những chuyện tưởng như vụn vặt, đó là khi đọc một số tác phẩm văn học Việt Nam, tôi cho đấy không phải văn chương, rất bực mình... Tất nhiên, phải có thêm chút năng khiếu. Tôi từ bé đã thích đọc, có trí nhớ rất ổn, mà nói hơi ngoa thì có thể đọc ngược "Truyện Kiều". Nói kiểu “nhà chùa”, đó là những “duyên” khiến cho tôi viết.

PV: Và ông đã chọn viết về Hà Nội. Là do Hà Nội thật sự mang lại cho ông quá nhiều cảm xúc hay bởi lý do nào khác?

Nhà văn Nguyễn Việt Hà: Ở Colombia, Marquez có ngôi làng Macondom. Ở ta, Nguyễn Quang Thiều có làng Chùa. Nhà văn ai cũng có vùng địa văn hóa của mình. Ví dụ, tôi không viết được gì về nông thôn cả. Hầu hết cuộc đời tôi ở Hà Nội, chẳng đi đâu xa quá lâu. Tôi chỉ biết về Hà Nội, theo cách của tôi mà Hà Nội thì không của riêng ai, nhưng mỗi người có một Hà Nội riêng của mình. Văn chương là cái gì rất cá nhân. Có điều, cái cá nhân ấy bao giờ cũng có độ cộng cảm với thời đại đang sống, tức là trong cái riêng của tác giả có cái chung của thời đại. Hà Nội của tôi may mắn trùng với Hà Nội của nhiều người nên sách của tôi hình như cũng bán ổn.

PV: Vậy Hà Nội mà ông biết như thế nào?

Nhà văn Nguyễn Việt Hà: Mới đây có một tài trợ cho tôi, một họa sĩ và một nhà điêu khắc nữa để làm cái gì đó về chuyện phố cổ Hà Nội, tôi chọn chủ đề vỉa hè. Vỉa hè Hà Nội thì không ai lạ nhưng để biết được đến những câu chuyện thật độc đáo thì có lẽ chỉ những cậu con trai phố cổ mới biết. Một lần, tôi thử giải thích vì sao người ta hay nói “Gái hàng Khoai, trai Hàng Lược”. Tôi từng hỏi một nhà “Hà Nội học” nhưng họ không hiểu nghĩa. Mẹ tôi bảo, các cụ hay nói là “Lấy chồng giữa làng, bán hàng đầu dãy”. Bán hàng ngồi đầu dãy phải thuộc hàng số má, hoặc có tiền có thế, hoặc đanh đá. Chợ Đồng Xuân vốn là nơi tập trung những người ghê gớm thì những người bán hàng đầu dãy thường là gái Hàng Khoai, trai Hàng Lược... Đại khái vậy.

Một tác phẩm chỉ cần là tiếng vọng, là tái hiện của một phần thời đại đã là tốt rồi. Chuyện tình yêu với Hà Nội cũng thế. Hà Nội đã và đang là không gian tiêu biểu cho một quốc gia, cho một nền văn hóa. Nếu miễn cưỡng phải so sánh thì ở góc độ hẹp, nó có vị thế kiểu như Paris. Rất nhiều văn nghệ sĩ tài năng ở châu Âu, nhưng phải đến Paris mới thành công. Paris là kinh đô ánh sáng, giống như vùng địa linh. Hà Nội đại loại cũng vậy.

Hà Nội có những con người tuyệt vời. Hiếm thành phố nào có tên phố là tên của hai bố con, nhưng Hà Nội tự hào có phố Lương Văn Can và Lương Ngọc Quyến. Người trẻ bây giờ không nhiều người biết điều đó. Hà Nội còn có một Trung đoàn Thủ Đô... Hà Nội không chỉ có mái ngói thâm nâu, biệt thự-đó chỉ là cái nền. Cái hay nhất của Hà Nội chính là những người sống ở đó, tinh tế, hào hùng và cũng lắm... oái oăm. Thầy giáo cũ của tôi luộc đĩa rau muống luôn xếp đầu ra đầu, đuôi ra đuôi. Nếu bây giờ nấu món su hào thái chỉ xào mực khô-một món thường ăn thời bao cấp chắc nhiều người dùng cái nạo su hào thành sợi, mẹ tôi coi như vậy là vứt, kể cả thái trên thớt cũng chưa đúng, mà theo bà phải dùng dao bổ cau thái su hào trên tay thì mới mềm... Cái kỹ của họ không hề lố bịch mà rất tự nhiên, như là chuyện đương nhiên phải thế. Người Hà Nội kiêu bạc chứ không khinh bạc. Hà Nội vốn làm gì có "cháo chửi", "phở quát", nhưng nếu một người ở đâu đó đến vào gọi bát cháo gà, lại xin thêm đĩa rau diếp cá ăn kèm, bà chủ quán bực mình, cáu, không bán, vì theo quan niệm của bà, không ai ăn như thế cả, ăn vậy làm hỏng bát cháo. Đó cũng là thứ rất Hà Nội. Tôi chỉ kể những “cái Hà Nội” của riêng tôi. Tóm lại, văn chương nào cũng vẫn phải có độ khác biệt, độc đáo, kỳ lạ. Nếu mà tôi biết những vùng đất khác sâu như vậy thì tôi cũng sẽ viết như thế...

PV: Nhưng Hà Nội của ông với những con người Hà Nội chính gốc dường như ngày càng bị phôi pha?

Nhà văn Nguyễn Việt Hà: Hà Nội hôm nay hình như đã hết chữ “người Hà Nội” mà chỉ còn “người ở Hà Nội”. Tôi không đồng ý với quan điểm sống trên 3 đời ở Hà Nội mới được gọi là người Hà Nội. Tôi có người bạn ở Hàng Khoai 5 đời. Cụ nội đời thứ nhất hành nghề ăn cắp chợ Đông Xuân và giờ đây, bạn tôi vẫn làm xe ôm. Nghề nào cũng đáng tự hào cả, thế nhưng liệu đấy có phải thật sự là người Hà Nội? Khi nói về Hà Nội, người ta hay dùng từ “lắng đọng”. “Lắng” là kết tinh-mang ý nghĩa thiêng liêng, “đọng” chỉ là tụ lại-tầm thường. Hà Nội là sự trộn lẫn hai thứ đó. Mình phải lọc đi cái “đọng”, tôn vinh cái “lắng”. Một người sống ở linh địa như thế thì nên “y phục xứng kỳ đức”. Trong văn hóa Phật giáo có thuật ngữ “tinh” và “thô”. Có những chân lý rất đúng, rất đẹp nhưng ở cảnh giới rất thô. Sẽ đúng, sẽ đẹp hơn nếu có thêm sự tinh tế. Không phải ngẫu nhiên mà Hà Nội thường sinh ra những nghệ sĩ tài hoa. Bởi vậy, tôi hay gọi vui họ là “yêu tinh”, tức là yêu sự tinh tế, tinh hoa. Văn chương là thế.

Tôi từng viết, có cô gái nhìn rất Hà Nội, đi xe vespa, mới mua nhà ở phố Hàng Đào, đi chợ Hàng Bè mua vịt, bà bán hàng bảo cô mua thêm mớ húng Láng cho đúng vị. Cô gái nhìn bà cụ nói, tôi là người Hà Nội, tôi chỉ ăn húng Hà Nội thôi... Ở hàng mì vằn thắn trên Trung Hòa-Nhân Chính, khi tôi xin thêm hẹ, nhân viên mang ra rau húng chó. Tôi ngỡ ngàng, điên à, sao mì vằn thắn lại ăn với húng chó? Nhưng khi nhìn sang bên, tôi thấy mọi người cũng đang ăn như vậy. Khẩu vị của thực khách quan trọng với nhà hàng lắm, nhất là với một chủ quán tử tế.

Quay lại chuyện “tinh” và “thô”. Bạn tôi vốn là họa sĩ, vào một hàng phở mới mở trên phố Chân Cầm; khi nhân viên bưng bát phở ra thì bạn tôi đứng dậy đi về, mọi người không hiểu tại sao. Khi tôi đến, thấy họ bê ra bát phở bằng nhựa thì tôi hiểu. Phở phải đựng bằng bát sứ, người kỹ tính sẽ không ăn bát đựng phở bằng nhựa. Chuyện như vậy cũng cực đoan, chẳng phải hay. Ai cũng vậy thì rất chán, nhưng nếu mất đi những người như thế cũng rất chán. Cái cực đoan của "bọn cao bồi già", tinh hoa ấy rất hiếm nhưng nó giữ cái hồn cốt Hà Nội. Tôi từng nói vì còn những người như thế mà Hà Nội mới còn vài gánh hàng rong ngon, vài quán cà phê sâu lắng. “Chữ trinh còn một chút này”.

PV: Phải chăng ông viết giống như đang tiếc nuối, đang nóng lòng mong giữ lại cái gì đó Hà Nội-của-riêng-mình?

Nhà văn Nguyễn Việt Hà: Đương nhiên đau đớn, xót xa nhưng tôi không tiêu cực. Tôi cho là một thành phố, rộng hơn là một quốc gia, muốn gìn giữ được thì ngoài biên giới định danh bằng cột mốc phải biết giữ một "biên giới mềm", đó là biết cách nuôi dưỡng một nền văn minh lớn. Bình Ngô đại cáo từng tự hào: “Tuy mạnh, yếu có lúc khác nhau/ Song hào kiệt đời nào cũng có”. Mỗi một người tài là một cứ điểm để giữ nước. Vì thế, phải chiêu hiền đãi sĩ, trân trọng thật tâm, truyền nối bồi dưỡng thế hệ sau. Y như trong gia đình, bố mẹ để lại ngôi nhà hương hỏa nhiều đời nhưng nếu con cái cờ bạc, rượu chè, sẵn sàng bán nhà thì chỉ còn cục tiền mà không còn bàn thờ. Trong cuốn tiểu thuyết mới nhất, tôi có đùa, Hà Nội còn giữ được là nhờ "những thằng dở hơi". Nhiều kẻ sĩ tài năng hôm nay, trông hao hao giống như dở hơi.

PV: Vậy nếu “những thằng dở hơi” ở phố cổ không còn nữa, rồi đời sau bán đi ngôi nhà thì Hà Nội sẽ ra sao?

Nhà văn Nguyễn Việt Hà: Tôi từng viết “Làm sao phố cổ Hà Nội mất được khi trong những nhà ấy vẫn còn mấy thằng con giai”. Hà Nội của tôi sẽ không bao giờ mất được vì nó như sự truyền lửa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Có một doanh nhân là chủ nhà hàng ở phố Đường Thành, mua lại biệt thự trên phố ấy và giữ nguyên, không kinh doanh. Anh ta rất trẻ, đại diện cho một kiểu con trai phố cổ của hôm nay. Có người mua nhà phố cổ để đập đi xây khách sạn kinh doanh, có người lại trân trọng những giá trị cũ. Và phố chỉ cần một người như thế thôi. Hà Nội sẽ không mất đi bởi nó vốn tồn tại một sinh lực mạnh mẽ đã hàng nghìn năm. Hà Nội nói riêng và cả dân tộc Việt nói chung, sẽ mãi mãi không thiếu vắng hào kiệt, mãi mãi vẫn sinh ra những người tài.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

THU HÒA (thực hiện)