Phóng viên (PV): Nhìn lại di sản sáng tác của nhạc sĩ Huy Du, dưới góc độ nghiên cứu âm nhạc học, PGS đánh giá đâu là mã định danh tạo nên phong cách nghệ thuật riêng biệt của Huy Du giữa thế hệ nhạc sĩ cùng thời?

PGS, TS Nguyễn Huy Phương: Nghiên cứu hệ thống tác phẩm của nhạc sĩ Huy Du, điểm nổi bật nhất chính là tính sáng tạo không ngừng và sự độc bản. Ông không bắt chước ai, không chịu ảnh hưởng từ trường phái ngoại nhập một cách máy móc; đặc biệt là không giẫm lại vết chân của chính mình. Mỗi tác phẩm của ông là một cấu trúc không gian, hình tượng âm nhạc độc lập, giàu tính thẩm mỹ và đa dạng về chủ đề.

Sự nghiệp sáng tác của ông là một trục hành trình lịch sử-tự nhiên nhưng đầy tính chuyển hóa. Giai đoạn tiền kháng chiến và kháng chiến chống thực dân Pháp, xuất phát từ tâm hồn một thanh niên yêu nhạc tại vùng đất quan họ Bắc Ninh, biết thổi sáo, chơi violon, ông có tác phẩm đầu tay “Sóng nước Ngọc Tuyền” mang phong vị tình ca mơ màng, trữ tình; khi giác ngộ cách mạng rồi vào đội tuyên truyền vũ trang (năm 1945), nhận thức nghệ thuật của ông thay đổi rõ rệt qua các bài hát như: “Những gác chuông giáo đường” (phổ thơ Hữu Loan), “Ba Vì năm xưa”,... đặc biệt là “Sẽ về Thủ đô” (năm 1948). Giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và hòa bình, sau 6 năm đào tạo chính quy tại Nhạc viện Bắc Kinh (nay là Học viện Âm nhạc đương đại Bắc Kinh, Trung Quốc), ngôn ngữ âm nhạc của ông được đánh giá đạt đến độ chín muồi về kỹ thuật phối khí và tư duy phát triển chủ đề với hàng loạt tác phẩm ra đời: “Tình em”, “Bế Văn Đàn sống mãi”, “Anh vẫn hành quân”, “Cùng anh tiến quân trên đường dài”, “Nổi lửa lên em”, “Đường chúng ta đi”, “Trên đỉnh Trường Sơn ta hát”, “Đêm Trường Sơn”...

leftcenterrightdel
PGS, TS Nguyễn Huy Phương. Ảnh do nhân vật cung cấp

PV: Trong giới nghiên cứu thường nhắc đến “tính dự báo” hay “tính khải hoàn ca” trong âm nhạc Huy Du. PGS có thể phân tích rõ hơn về hiện tượng thẩm mỹ này?

PGS, TS Nguyễn Huy Phương: Đó là một năng lượng tâm linh, nghệ thuật đặc biệt của nhạc sĩ Huy Du. Âm nhạc của ông như có khả năng tiên cảm lịch sử.

Năm 1946, khi cùng quân dân rút lên khu Ba Vì, trong gian khổ, thiếu thốn, ông đã viết “Sẽ về Thủ đô” với giai điệu hăm hở, khẳng định ngày trở về chiến thắng.

Cuối năm 1967, đầu năm 1968, khi cuộc chiến chống đế quốc Mỹ đang ở giai đoạn khốc liệt nhất, ông viết “Đường chúng ta đi” (phổ thơ Xuân Sách). Nhà văn Đỗ Chu từng nhận xét bài hát này mang tầm vóc của một bản “khải hoàn ca”. “Đường ta đi ánh lửa soi đêm dài/ Đường ta về trong nắng ấm ban mai/ Việt Nam, Việt Nam qua từng bước gian nan/ Lớn lên rồi đẹp những mùa xuân”-Giai điệu vút cao đầy kiêu hãnh như báo trước ngày đất nước trọn niềm vui năm 1975.

Tính dự báo ấy không đến từ sự suy đoán, mà cất lên từ niềm tin mãnh liệt vào chính nghĩa và tình yêu thương con người sâu sắc của một người lính trực tiếp sống và chiến đấu trên chiến trường.

PV: Bên cạnh kho tàng ca khúc đồ sộ, nhạc sĩ Huy Du còn để lại những tác phẩm khí nhạc nổi tiếng như “Miền Nam quê hương ta ơi” (violon & piano năm 1959) hay biến tấu “Kể chuyện sông Hồng” (năm 1960)... Là một nhà quản lý, nghiên cứu và đào tạo âm nhạc hàn lâm, PGS nhìn nhận thế nào về vị trí của mảng khí nhạc Huy Du và thực trạng trình diễn khí nhạc Việt Nam hiện nay?

PGS, TS Nguyễn Huy Phương: Mảng khí nhạc của nhạc sĩ Huy Du tuy số lượng không nhiều so với ca khúc nhưng có giá trị nghệ thuật cao, thể hiện tư duy kết hợp nhuần nhuyễn giữa âm hưởng dân tộc với kỹ thuật thính phòng phương Tây.

Từ góc độ chuyên môn, phải thừa nhận chúng ta đang đối mặt với sự đứt gãy giữa các thế hệ sáng tác khí nhạc Việt Nam. Thế hệ vàng của khí nhạc Việt Nam từng có các nhạc sĩ: Trọng Bằng, Hoàng Vân, Đỗ Nhuận, Đàm Linh, Doãn Nho, Huy Du... đã đặt nền móng vững chắc cho giao hưởng-khí nhạc Việt Nam với tư duy hoành tráng, giàu tính dân tộc.

Thế hệ chuyển tiếp cho đến nay có các nhạc sĩ: Nguyễn Văn Nam, Đỗ Hồng Quân, Nguyễn Cường, Trần Mạnh Hùng... xuất hiện các tác phẩm chất lượng nhưng chủ yếu do đặt hàng. Các nhạc sĩ trẻ giàu tiềm năng nhưng lại đang thiếu động lực sáng tác khí nhạc do chi phí dàn dựng cao, khó tiếp cận công chúng thị trường.

PV: Vậy, theo PGS đâu là giải pháp căn cơ để đưa tác phẩm khí nhạc kinh điển của các nhạc sĩ thế hệ tiền bối trở lại không gian sân khấu hiện đại?

PGS, TS Nguyễn Huy Phương: Nền âm nhạc của một quốc gia không thể chỉ sống bằng âm nhạc thị trường. Sự vững mạnh của âm nhạc Nga đến từ di sản của Tchaikovsky, Rachmaninoff, Shostakovich... Việt Nam muốn khẳng định vị thế văn hóa thì phải có một nền âm nhạc hàn lâm có bản sắc.

Để giải bài toán này, cần tăng cường tổ chức các cuộc thi sáng tác giao hưởng định kỳ (ví dụ 2 năm/lần) do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc Hội Nhạc sĩ Việt Nam chủ trì, có nguồn kinh phí đủ lớn để tài trợ dàn dựng và trao giải xứng đáng.

Thời gian vừa qua, việc các dàn nhạc giao hưởng trong nước với sự tham gia biểu diễn của các nghệ sĩ hát ca khúc cách mạng; các nghệ sĩ thực hiện liveshow cá nhân hát ca khúc cách mạng với dàn nhạc; đặc biệt sự kiện thành lập Dàn nhạc Giao hưởng Quân đội gần đây là một bước đi đúng hướng. Chúng ta có thể chuyển soạn, giao hưởng hóa các tác phẩm thanh nhạc/khí nhạc cách mạng của các nhạc sĩ Hoàng Vân, Đỗ Nhuận, Huy Du... sang phối khí hiện đại để tiệm cận giới trẻ.

leftcenterrightdel

Di sản âm nhạc của nhạc sĩ Huy Du. Ảnh: PHẠM THỦY 

PV: Nhắc đến Huy Du người ta nhớ đến hình ảnh một cây đại thụ âm nhạc, vị Đại tá Quân đội, từng giữ vị trí Tổng thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam rồi Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa-Giáo dục Quốc hội khóa VIII. Nhưng trong ký ức gia đình, hình ảnh người bố Huy Du đời thường hiện lên trong PGS như thế nào?

PGS, TS Nguyễn Huy Phương: Bố tôi trong đời sống rất bình dị, tỉ mẩn và giàu tình cảm.

Do tôi đi du học ở Nga từ năm 15 tuổi, sống xa nhà liên tục 14 năm nên những ký ức sâu sắc nhất lại nằm ở thời thơ ấu. Nhà chúng tôi là nơi hội tụ của giới văn nghệ sĩ thời bấy giờ như: Đỗ Chu, Doãn Nho, Hồng Đăng... Mỗi khi viết xong tác phẩm mới, bố tôi không bao giờ mang xuất bản ngay. Ông luôn mời bạn bè nghệ sĩ đến nhà, pha trà, đánh đàn và hát thử để mọi người góp ý rồi gọt giũa tỉ mỉ. Tôi khi đó chỉ là đứa trẻ mang trà nước, dọn bàn, nhưng đã được hít thở không khí nghệ thuật vô cùng văn hóa và ấm áp ấy.

Bố tôi là người đặc biệt khéo tay. Ông tỉ mẩn ngồi cả ngày đóng cho con trai cái bàn, cái ghế nhỏ; hay nhặt những mảnh gỗ mộc, những đồ chơi trôi dạt ở bờ biển Bạch Long Vĩ về làm thành hòn non bộ. Những kỷ vật ấy đến nay gia đình tôi vẫn lưu giữ trân trọng trong tủ lưu niệm.

Một điểm đặc biệt nữa ở ông là sự trân trọng đối tác sáng tác và đồng đội. Khi phổ nhạc bài “Tình em”, thơ “Gửi em dưới quê làng” của nhà thơ Ngọc Sơn, ngay khi nhận được tiền nhuận bút, ông đã trích ngay một nửa, tìm bằng được địa chỉ để gửi cho tác giả thơ.

PV: Nhìn về tương lai, khi thế hệ trẻ sinh ra trong hòa bình, ông tin điều gì sẽ giữ cho âm nhạc của Huy Du tiếp tục vang lên?

PGS, TS Nguyễn Huy Phương: Âm nhạc của Huy Du sống được qua thời gian vì nó không viết về sự tàn khốc của chiến tranh, mà viết về vẻ đẹp của tâm hồn con người trong chiến tranh. Đó là tình yêu quê hương, tình yêu đôi lứa, sự hy sinh thầm lặng của những con người bình dị.

Giới trẻ ngày nay rất thông minh và có gu thẩm mỹ cao. Chỉ cần chúng ta biết cách đưa di sản đến với họ bằng ngôn ngữ hòa âm phối khí đương đại, kết hợp giữa yếu tố truyền thống và học thuật hiện đại, thì những giai điệu như “Đường chúng ta đi” hay “Trên đỉnh Trường Sơn ta hát” sẽ mãi là ngọn lửa truyền cảm hứng cho muôn đời sau.

PV: Trân trọng cảm ơn PGS, TS Nguyễn Huy Phương!     

Chương trình nghệ thuật “Đường chúng ta đi” kỷ niệm 100 năm Ngày sinh nhạc sĩ Huy Du, dự kiến diễn ra hai đêm 11 và 12-12 tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam do gia đình phối hợp với Hội Nhạc sĩ Việt Nam thực hiện.

 “Huy Du đã để lại cho dân tộc những giai điệu bất tử của một tâm hồn nghệ sĩ lớn. Cái hay trong âm nhạc Huy Du là trong cái hùng có cái tình, trong tiếng quân hành có nỗi nhớ. Âm nhạc của ông không chỉ có khí thế cổ vũ chiến đấu mà luôn tràn ngập tính nhân văn, vẻ đẹp của tình yêu đất nước, tình yêu đôi lứa và niềm tin lạc quan vào tương lai”, Thiếu tướng, nhạc sĩ Nguyễn Đức Trịnh, Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam cho hay.

HÀ DƯƠNG (thực hiện)